Đắc Nhân Tâm (Nguyễn Hiến Lê dịch)

Thảo luận trong 'eBook - Truyện đọc - Truyện nghe' bắt đầu bởi LucifeR, 08/07/2009.

  1. Offline

    LucifeR New Member

    Số bài viết:
    815
    Đã được thích:
    87
    Phần Một


    Muốn Lấy Mật Đừng Phá Tổ Ong


    Ngày 7 tháng 5 năm 1931, mười ngàn người ở châu thành Nữu Ước được mục kích một cuộc săn người sôi nổi chưa từng thấy. Một trăm năm mươi lính công an bao vây một căn phố để bắt tên tướng cướp Crowley, biệt danh là "Hai Súng" vì lúc nào y cũng mang hai cây súng ở trong mình. Họ leo lên mái nhà bắn xuống, đặt súng liên thinh trên nóc những nhà chung quanh, dùng hơi cay và trong hơn một tiếng đồng hồ cả một khu mỹ lệ nhất của Nữu Ước vang lên tiếng súng và tiếng "lạch tạch" của liên thanh. Crowley núp sau chiếc ghế bành đệm bông, bắn lại lính không ngừng.

    Khi bắt được y rồi, viên giám đốc công an tuyên bố: "Nó vào hạng tội nhân nguy hiểm nhất. Nó muốn giết người là giết, không vì một lý do gì hết".

    Nhưng còn chính tội nhân, Crowley, y tự xét y ra sao? Muốn biết, bạn hãy đọc hàng sau này mà y vừa chống cự với lính vừa viết để lại cho đời: "Dưới lớp áo này, trái tim ta đập, chán ngán nhưng thương người không dám làm hại một ai hết".

    Không muốn làm hại ai hết! Vậy mà trước đó mấy ngày, khi một người lính công an lại gần y để hỏi giấy phép lái xe hơi, thì y xả ngay một loạt súng, giết người đó tức thì. Một kẻ sát nhân không gớm máu như vậy mà còn tự khoe: "Trái tim thương người, không muốn làm hại ai hết!".

    Trước khi ngồi lên ghế điện để chịu tử hình tại khám Sing Sing, y còn than: "Tôi chỉ tự vệ mà người ta xử tôi như vậy đó".

    Nghĩa là trong thâm tâm, y nhất định không chịu nhận y có tội.

    Bạn sẽ nói: "Thì chỉ có nó nghĩ thế, chứ còn ai lạ đời như vậy nữa".

    Không đâu, thưa bạn: kẻ thù số một của nước Mỹ, Al Capone, tên đầu đảng ăn cướp đã làm cho châu thành Chicago kinh khủng, cũng nói: "Ta đã dùng những năm tươi đẹp nhất trong đời để mua vui cho thiên hạ, vậy mà phần thưởng chỉ là bị chửi, và bị săn bắt như một con thú dữ".

    Mà cả Dutch Schultz, một trong những tên cướp lợi hại nhất ở Nữu Ước cũng tuyên bố với một ký giả rằng y là ân nhân của thiên hạ.

    Viên giám đốc khám Sing Sing, ông Lawes, viết: "Ở Sing Sing, những tội nhân đều tự cho họ cũng có tâm trạng thông thường không khác đời chi hết. Cũng lý luận giảng giải tại sao chúng bắt buộc phải cạy tủ sắt hoặc bóp cò... và tuyên bố rằng bỏ tù chúng thật là bất công".

    Nếu ba tên cướp đó và cả bọn khốn nạn đương nằm trong khám, tự cho mình vô tội như vậy thì những người mà chúng ta gặp mỗi ngày ở ngoài đường, cả các bạn nữa, cả tôi nữa, chúng ta ra sao?

    Cho nên ông John Wanamaker, một thương gia lớn có lần đã tự thú: "Từ ba mươi năm nay, tôi đã hiểu rằng: sự chỉ trích chẳng ích lợi gì hết". Ông đã sớm hiểu bài học đó. Riêng tôi, tôi đã phải phấn đấu trong một phần ba thế kỷ trước khi thấy ló ra ánh sáng của chân lý này: "Dù người ta có lỗi nặng đến đâu, thì trong một trăm lần, tới chín mươi chín lần người ta tự cho là vô tội".

    Chỉ trích đã vô ích mà còn nguy hiểm, vì làm thương tổn lòng tự ái của người và gây ra oán thù. Hơn nữa, kẻ bị ta chỉ trích tự nhiên sẽ hằn học chỉ trích lại ta, như ông tổng trưởng bộ nội vụ Albert Fall, vì ăn hối lộ một trăm ngàn đồng mà dùng gươm súng đàn áp kẻ bị ức hiếp, sau vỡ lở, bị ngồi khám, làm cho dư luận toàn quốc oán hờn Chính phủ, đảng Cộng hòa suýt đổ, Tổng Thống Harding bị giày vò, lo lắng đến đỗi ít năm sau thì chết. Vậy mà khi người ta trách y đã lợi dụng lòng tin Cậy của bạn là ông Harding và phản ông, thì vợ y nhảy chồm chồm lên, khóc sướt mướt vặn tay bứt tóc, rủa đời, la lớn: "Không! không! chồng Tôi không phản ai hết. Cả một tòa nhà đầy vàng cũng không quyến rũ được chồng tôi. Chồng tôi đã bị người ta phản".

    Tâm trạng con người như vậy đó. Kẻ làm quấy oán trách đủ mọi người, mà chẳng bao giờ oán trách mình cả. Bạn cũng như vậy và tôi cũng như vậy. Cho nên từ nay, mỗi lần muốn chỉ trích ai, ta nên nhớ hai tướng Cướp Capone và Crowley, nhớ bộ trưởng bộ nội vụ Fall. Ta nên hiểu rằng những lời chỉ trích ta thốt ra, cũng như con chim bồ câu, bao giờ nó cũng Trở về chỗ cũ. Kẻ bị ta chỉ trích chắc chắn sẽ tìm hết lý lẽ để tự bào chữa và trở lại buộc tội ta.

    Và hiểu vậy nên ông Abraham Lincoln đã để lại cái danh là có tài dẫn đạo quần chúng bực nhất trong lịch sử loài người. Hồi thiếu thời ông nhiệt liệt chỉ trích bất cứ ai, thậm chí tới viết những thơ phúng thích để chế giễu người ta rồi đem liệng cùng đường cho thiên hạ đọc cười chơi. Một lần cũng vì thói đó, suýt gây nên một cuộc đấu gươm. Từ đó chẳng những ông không bao giờ nhạo báng, mỉa mai ai nữa, mà còn khoan dung dễ dãi với mọi người. Châm ngôn của ông là: "Đừng xét người, nếu ta không muốn người xét lại ta".

    Trong thời Nam Bắc chiến tranh, có một lần bại quân phương Nam, ban đêm chạy tới một con sông, vì mưa bão mà nước dâng cao không thể nào qua nổi. Ông đánh dây thép, rồi muốn chắc chắn hơn, lại sai người mang hiệu lệnh cho đại tướng Meade cầm đầu quân phương Bắc bảo phải lập Tức tấn công quân Phương Nam do tướng Lee cầm đầu. Nhưng Meade vì ngần ngừ, trễ nải đã làm ngược hẳn lệnh ông và để cho quân Phương Nam thừa lúc mực nước xuống, qua sông mà thoát được, lỡ mất cơ hội độc nhất, vì chỉ một trận đó có thể chấm dứt cuộc Nam Bắc tương tàn.

    Ông Lincoln giận lắm, la: "Trời cao đất dày, như vậy là nghĩa lý gì?" .

    Rồi ông than với con rằng: "Quân địch ở trong tay ta mà để cho nó thoát! Trong tình thế đó bất cứ ai cầm quân cũng có thể đánh bại tướng Lee. Mà nếu cha có mặt tại đó, chắc chắn đã thắng trận rồi!". Đoạn ông hậm hực viết bức thư này:

    Đại tướng thân mến, Tôi không tin rằng ông nhận chân được sự đại Tướng Lee trốn thoát tai hại là dường nào! Quân đội y ở trong tay ta, và vì y đã bại nhiều phen, nếu đánh ngay lúc đó thì chí một trận thì chiến tranh đã kết liễu. Nay thì nó sẽ kéo dài ra không biết đến bao giờ. Thứ hai trước, ông đã không thắng nổi Lee, bây giờ y đã qua sông, Mà lực lượng của ông chỉ có thể bằng hai phần ba hôm đó thì làm sao Thắng nổi y được nữa?

    ... Dịp may ngàn năm một thuở của ông đã qua rồi và không ai thấu nổi nỗi buồn khổ của tôi!...

    Nhưng bức thư đó, bức thư Trách nhẹ nhàng có vậy, ông viết rồi mà không gởi. Sau khi ông chết, người ta tìm thấy trong giấy tờ của ông.

    Vậy có lẽ ông đã tự nghĩ: "Hãy khoan, đợi một chút... đừng hấp tấp. Ta ngồi yên ổn trong tòa Bạch Ốc này mà ra lệnh thì thật dễ. Nhưng nếu ta đã có mặt tại bãi chiến trường, nếu như ông Meade từ mấy tuần nay, ta đã thấy máu chảy, đã nghe tiếng rên la của lính bị thương hoặc hấp hối, thì có lẽ ta cũng không hăng hái tấn công kẻ địch lắm. Vả lại, nếu ta có tính rụt rè của Meade thì ta cũng hành động y như ông Ta. Thôi, việc đã vậy rồi, nói cũng vô ích. Gởi bức thư này đi, dù ta có hả giận chút đỉnh, nhưng Meade sẽ trách lại ta, sinh ra oán giận, mất lòng tự tin của ông ta đi, và biết đâu ông chẳng từ chức nữa".

    Là vì ông đã kinh nghiệm rằng những lời nghiêm trách không có ích lợi gì cả.

    Theo Theodore Roosevelt kể lại Rằng hồi ông còn làm tổng thống, mỗi lần gặp điều khó xử, thường ngả lưng vào ghế, nhìn lên tấm hình của Lincoln treo trên tường và tự hỏi: "Lincoln ở địa vị mình, sẽ xử trí ra sao? giải quyết ra sao?" .

    Chúng ta cũng vậy, lần sau có muốn "xài" ai, hãy rút tấm giấy năm mỹ kim ở trong túi ra mà ngắm hình Lincoln trên đó và tự hỏi rằng: "Ở vào địa vị ta, Lincoln xử trí ra sao?" và muốn sửa đổi người, ta hãy sửa đổi ta trước đã. Như vậy có lợi hơn và... ít nguy hiểm hơn".

    Khổng Tử nói: "Khi bực cửa nhà ta dơ thì đừng chê nóc nhà bên sao đầy tuyết".

    Hồi nhỏ tôi tự phụ lắm. Một lần nhận được bức thư có thêm mấy chữ này: "Thư này đọc cho người ta viết, mà không coi lại". Tôi thích hàng chữ đó lắm vì tôi thấy nó cho ta có vẻ quan trọng và bề bộn công việc. Rồi một hôm, muốn lên mặt với một tiểu thuyết gia, tôi viết thư cho ông ta và cũng thêm hàng chữ ấy. Tiểu thuyết gia đó gởi trả bức thư và thêm vào: "Chỉ có sự ngu xuẩn của ông mới ví được với sự thô lỗ của ông thôi".

    Nói cho đúng, tôi đã vô lễ và những lời chỉ trích đó không phải là không đáng. Nhưng vì tôi chỉ là một thằng người, nên tôi thấy nhục lắm và thâm oán tiểu thuyết gia đó đến nỗi mười năm sau, khi hay tin ông ta chết tôi đã chẳng tiếc một người có tài mà chỉ nhớ tới sự ông đã làm thương tổn lòng tự ái của tôi.

    Vậy bạn muốn người ta oán tới chết, thì hãy dùng những lời chỉ trích cay độc. Còn không thì nên nhớ rằng loài người không phải luôn có lý trí đâu. Họ hành động suy nghĩ theo tình cảm, thành kiến, lòng kiêu căng và hợm hĩnh của họ. Sự chỉ trích ví như một mồi lửa, mà lòng kiêu căng của con người là một kho thuốc súng, gặp nhau tức bùng nổ, gieo tai hại vô cùng.

    Benjamin Franklin hồi nhỏ vụng xử bao nhiêu thì sau này lại giỏi về khoa tâm lý và dụng nhân bấy nhiêu cho nên được bổ làm sứ thần Huê Kỳ tại Pháp. Bí quyết của sự thành công đó là ông không bao giờ chỉ trích ai hết và chỉ thành thực ca tụng đức tính của người thôi.

    Chỉ trích oán trách người, buộc lỗi cho người thì kẻ điên nào cũng biết. Nhưng hiểu người và tha thứ cho người thì phải có tâm hồn cao cả và sức tự chủ mạnh mẽ mới được.

    Carlyle nói: "Muốn xét độ lượng của ai chỉ cần xem cách xử sự của người đó với kẻ dưới". Vậy đáng lẽ buộc tội, chỉ trích ai thì ta phải rán hiểu họ, tìm nguyên nhân những hành vi của họ. Đó là nguồn gốc của cảm tình, khoan dung và hòa hảo.

    Đức thượng đế kia mà còn đợi khi người ta chết rồi mới xét công và tội. Tại sao người phàm như chúng ta lại nghiêm khắc hơn ngài?


    kennynhatrang thích bài này.
  2. Offline

    LucifeR New Member

    Số bài viết:
    815
    Đã được thích:
    87
    Phần Hai

    Một Bí Quyết Quan Trọng Trong Phép Xử Thế


    Muốn dẫn dụ ai làm việc theo ý ta, chỉ có cách là làm cho người ấy phát khởi cái ý muốn làm việc đó.

    Xin các bạn nhớ kỹ điều ấy.

    Xin các bạn nhớ rằng không có một cách thứ hai nào nữa.

    Đã đành, bạn có thể chĩa súng sáu vào bụng một người qua đường mà bắt người đó phải cởi đồng hồ ra đưa cho bạn. Bạn cũng có thể bắt một người làm công phải chăm chỉ làm việc cho tới khi bạn quay lưng đi, bằng cách dọa tống cổ hắn ra cửa.

    Cầm chiếc roi mây, bạn có thể bắt con nít vâng lời được. Nhưng những cách tàn bạo đó có những phản ứng tai hại lắm. Muốn cảm động ai và dẫn dụ người đó hành động, chỉ có một cách là người ta muốn gì, cho người ta cái đó.

    Mà chúng ta muốn những gì? Ít lắm, nhưng khi chúng ta đã muốn thì chúng ta nằng nặc đòi cho kỳ được. Những cái chúng ta muốn là:

    1. Sức khỏe và sanh mạng.
    2. Ăn.
    3. Ngủ.
    4. Tiền của.
    5. Để tiếng lại đời sau.
    6. Thỏa nhục dục.
    7. Con cái chúng ta được mọi sự đầy đủ.
    8. Được người khác coi ta là quan trọng.

    Freud, nhà bác học Đức trứ danh về bệnh thần kinh nói rằng hai thì dục căm bản của nhân loại là tình dục và thị dục huyễn ngã.

    Triết gia John Dewey nói: thị hiếu mạnh nhất của nhân loại là thị dục huyễn ngã. Xin các bạn nhớ kỹ bốn chữ: "Thị dục huyễn ngã". Nghĩa nó vô cùng và bạn sẽ gặp nó trong cuốn sách này.

    Bảy thị dục khác đều dễ thỏa mãn, duy có thị dục đó ít khi được thỏa lắm, tuy nó cũng khẩn cấp như ăn và ngủ.

    Abraham Lincoln nói: "Ai cũng muốn được người ta khen mình". Chúng ta đều thèm khát những lời khen chân thành mà than ôi! ít khi người ta cho ta cái đó.

    Nhưng kẻ nào đã học được cái bí quyết làm thỏa mãn lòng đói khát lời khen đó, nó tuy kín đáo mà dày vò người ta, đâm rễ trong lòng người ta, thì kẻ ấy "nắm được Mọi người trong tay mình" và được mọi người tôn trọng sùng bái, nghe lời, "khi chết đi, kẻ đào huyệt chôn người đó cũng còn phải khóc nữa".

    Loài vật không có dục vọng ấy. Nghiêm quân của tôi khéo nuôi heo và bò, kỳ đấu xảo canh nông nào ông cũng được giải thưởng. Ở nhà, ông ghim hết thảy bằng cấp đó lên trên một tấm lụa trắng, khách khứa lại ông mở ra khoe. Heo thản nhiên đối với những giải thưởng ấy, còn ông thì khoái lắm, vì những giải thưởng đó cho ông ái cảm tưởng rằng ông rất quan trọng.

    Nếu các bậc tiền nhân không có thị dục trở nên quan trọng đó, thì văn minh không có và chúng ta cũng chỉ như loài vật thôi.

    Nhờ nhu cầu đó mà một thầy lý quèn, trong một tiệm tạp hóa, học lực dở dang, mua những sách luật rách nát về mải miết học để rồi trở Nên một vĩ nhân: Lincoln. Các văn hào, thi hào viết được những cuốn Sách bất hủ, các ông "vua" dầu lửa, xe hơi... trở nên triệu phú đều nhờ thị dục đó cả.

    Gia đình ít người mà cất ngôi nhà cực rộng lớn, mua chiếc xe hơi kiểu mới nhất, sắm bộ đồ cho hợp thời trang, khoe sự học hành tấn tới của mình: cũng đều do thị dục đó hết. Cũng chỉ vì muốn thỏa lòng ao ước trở nên một danh nhân, mà biết bao thanh niên Mỹ thành tướng cướp lợi hại, những tay Sát nhân không gớm máu, cho đến nỗi chúng bị bắt rồi thì đòi cho được đọc ngay những tờ báo đê tiện trong đó người ta tả chúng như những vị anh hùng. Được coi hình chúng trên mặt báo bên cạnh hình những danh nhân thế giới, chúng quên cái ghế điện nó đợi chúng.

    Muốn biết tính tình, tư cách một người ra sao, ta chỉ cần xét người đó dùng những phương tiện nào để thỏa mãn thị dục huyễn ngã.

    Rockfeller thỏa mãn nó bằng cách cất ở Bắc Kinh một nhà thương tối tân để săm sóc hàng triệu người nghèo, mà ông chưa từng và sẽ chẳng bao giờ thấy mặt. Dillinger thỏa mãn nó bằng cách giết người, ăn cướp các ngân hàng. bị lính công an săn bắt, nó trốn vào một trại ruộng mà tự xưng với người trong trại: "Dillinger là ta đây!". Nó tự đắc được cái danh là "kẻ thù số một của quần chúng".

    Nhiều vĩ nhân trong thế giới cũng mắc cái tật tự khoe mình là quan trọng. George Washington bắt mỗi người phải xưng tụng ông là: "Huê Kỳ tổng thống đại nhân". Kha Luân Bố đòi cho được cái danh là "Đề đốc Đại Tây Dương và Phó vương Ấn Độ". Catherin, nữ hoàng nước Nga, không chịu đọc những thư mà ngoài không đề: "Hoàng đế ngự lãm". Bà tổng thống Lincoln, một hôm, dữ như cọp cái, quay lại mắng bà Grant giữa dinh Bạch Ốc: "Sao? Tôi chưa mời mà bà cả gan dám đối tọa với tôi sao?"

    Các nhà triệu phú của ta sở dĩ bỏ tiền ra cho đề đốc Byrd thám hiểm Nam Cực vì đề đốc hứa sẽ lấy tên họ đặt tên cho những ngọn núi quanh năm tuyết phủ ở miền ấy. Thi hào Victor Hugo chỉ cầu sao cho người ta lấy tên ông đặt tên cho kinh đô nước Pháp. Và thi hào Anh Shakespeare Tuy đã được cả nước Anh tôn sùng mà còn mua tước vị để thêm danh giá cho gia đình. Có kẻ làm bộ đau, bắt người ta săn sóc mình, chiều chuộng mình để được thấy mình là quan trọng. như một cô nọ, hết hy vọng kiếm chồng được, đương khỏe mạnh hóa ra tật nguyền, nằm hoài ở giường bắt mẹ già săn sóc trong mười năm, lên thang xuống thang để hầu hạ cơm nước. Bà mẹ kiệt sức, chết. Trong vài tuần lễ cô ả ủ rũ, một hôm bỗng đứng phắt ngay dậy, trang điểm rồi đi lại như hồi trước.

    Đem giải phẫu bộ óc thì nửa số người điên cũng bình thường như óc chúng ta. Một vị bác học trứ danh nhận thấy rằng phần nhiều những người đó chỉ muốn tìm trong tưởng tượng, sự thỏa mãn của lòng tự phụ mà hóa điên.

    Trong đời thực tế, họ tầm thường bao nhiêu, tự thấy mình hèn hạ bao nhiêu, thì trong thế giới tưởng tượng của họ, họ càng thấy oai quyền và danh vọng của họ lớn lao bấy nhiêu. Những kẻ đó sướng hơn chúng ta nhiều lắm. Họ đã kiếm được trong thế Giới thần tiên của họ cách thỏa mãn lòng khao khát danh vọng của họ. Họ đã ký một tấm chi phiếu một triệu đồng, hoặc viết một bức thư tiến dẫn ta với hoàng đế Ba Tư rồi hãnh diện đưa cho ta.

    Đã có những người khát khao danh vọng mà hóa điên như vậy, thì sự biết khen tài năng của những người ở chung quanh ta tất phải là một phép mầu nhiệm vô cùng.

    Tôi mới biết có một người mỗi năm lãnh lương một triệu đồng. Mà ông chủ người đó lại có tiếng là keo cú nữa.

    Người đó là Charls Schwab, người tin cẩn của ông vua thiếc Andrew Carnegie. Mà Charles Chwab có thiên tài không? Không. Biết rõ về dã kim thuật hơn các viên kỹ sư khác không? Tuyệt nhiên không. Chính ông thú với tôi Rằng nhiều viên cộng sự với ông giỏi về kỹ thuật hơn ông nhiều lắm.

    Nhưng ông có một tài hiếm có: tài chỉ huy, dẫn đạo. Ông biết cho người ta cái mà người ta khát khao nhất: lời khen và lời khuyến khích.

    Bí quyết của ông đây. Tôi xin chép đúng lời ông và mong rằng những lời vàng ngọc đó được khắc lên bảng đồng, treo trong mỗi nhà, mỗi trường học, mỗi cửa hàng, mỗi công sở. Học thuộc câu đó càng ích lợi cả ngàn lần hơn thuộc những công thức hóa học hay là mực trung bình mưa mỗi năm ở Guatemala.

    Schwab nói:

    Cái vốn quý nhất của tôi là năng lực khêu gợi được lòng hăng hái của mọi người. Chỉ có khuyến khích và khen ngợi mới làm phát sinh và tăng gia những tài năng mới nhất của người ta mà thôi.

    Những lời chỉ trích của người trên là một cách tai hại nhất để diệt cao vọng của kẻ làm công. tôi không bao giờ rầy ai hết. Tôi tin rằng tốt hơn nên khuyến khích người ta và cho người ta một lý tưởng để nói tới. Cho nên tôi luôn luôn saÜn sàng khen ngợi một cách thật thà. tôi không tiếc lời khen và rất dè dặt trong lời chê".

    Schwab nói vậy mà chúng ta hành động ra sao?Hoàn toàn trái ngược. Có điều chi không vừa ý là chúng ta nổi cơn lôi đình lên, còn nếu vừa ý ta ư? Ta làm thinh.

    Mà ông chủ của ông là ông Andrew Carnegie sở dĩ thành công kỳ dị như vậy cũng nhờ tài biết khen người đó. Ông ca tụng những người giúp việc ông trước mặt họ. Ông ca tụng họ vắng mặt. Ông còn tìm được cách ca tụng họ sau khi ông chết nữa. Ông nghĩ ra câu này và bắt người ta khắc lên mộ chí của ông: "Đây là nơi nghỉ ngàn thu của một người biết cách thâu dụng những người thông minh hơn mình".

    Nhà triệu phú Rockefeller cũng không có bí quyết chi khác. Khi một hội viên của công ty ông đầu tư một cách tai hại ở Nam Mỹ làm cho công ty lỗ một triệu đồng Mỹ kim, ông chẳng những không phiền hà mà còn khen bạn tài tình vãn cứu được sáu mươi phần trăm số vốn bỏ ra, mà chỉ còn lỗ có bốn mươi phần trăm thôi.

    Ziegfield, nhà dàn cảnh tài nhất của Nữu Ước, đã nổi danh chỉ vì khéo khoe trương nét tuyệt mỹ của những cô đào phụ. Ông thường nói bất kỳ một người con gái nào, dù xấu đến nỗi "chẳng ai ngó tới hai lần", ông cũng tạo thành một ngôi sao rực rỡ trên sân khấu, chỉ vì ông khéo tô điểm cho họ có một sức quyến rũ vô cùng huyền bí. Ông khen họ đẹp, rồi họ tự thấy họ đẹp, sửa soạn cho đẹp thêm. Ông lại có óc thực tế nữa: ông tăng lương cho họ từ 30 mỹ kim lên một trăm bảy mươi lăm mỹ kim, để họ có đủ tiền mà trang sức. Ông lại có những cử chỉ Phong nhã, lịch sự. Lần đầu tiên diễn vở nhạc kịch: "Ziegfield Follies", ông đánh dây thép chúc mừng khi được kết quả rực rỡ và lại tặng mỗi cô đào phụ mặt bó hồng nữa.

    Hồi mà phong trào nhịn ăn cho bớt mập đang cuồng nhiệt, có lần tôi cũng đua đòi và nhịn ăn trong sáu ngày sáu đêm. Không khó chịu chi hết. tới ngày thứ sáu tôi thấy ít đói hơn ngày thứ nhì.

    Ấy vậy mà nếu ta để cho người nhà nhịn ăn trong sáu ngày thì ta đã tự cho là có tội nặng, nhưng bắt họ nhịn những lời khen và khuyến khích của ta sáu ngày, sáu tuần, có khi sáu mươi năm thì ta không ân hận chút nào. Mà xét ra, sự khen ngợi và khuyến khích cũng khẩn thiếtt Như đói cần ăn vậy. Một kép hát có danh nói: "Không có gì cần thiết cho tôi bằng những tràng vỗ tay để nuôi lòng tự ái của tôi". Chúng ta nuôi cơ thể của con ta, của bạn bè khách khứa, của người làm công cho ta, mà ít khi ta cho họ thức ăn cần thiết cho lòng tự trọng của họ. Chúng ta đãi họ thịt cá để bồi bổ sức khỏe, mà quên không tặng họ những lời ca tụng nó vang trong óc rất lâu như những điệu nhạc tuyệt thú.

    Tôi biết các bạn đọc tới đây Sẽ nói: "Phải! Ai lạ gì cái thuyết mật ngọt chết ruồi! Nịnh hót cho người ta lên mây xanh chớ gì! Nhưng ông ơi! Người thông minh họ không cắn câu đâu!".

    Đã đành những lời nịnh hót vụng về rỗng tuếch, vụ lợi, ở ngoài môi, chỉ lừa được những người ngu thôi. Nó phải thất bại và thường thường nó thất bại. Nhưng nói cho đúng, ta phải nhận rằng thế gian này có nhiều người ưa phỉnh tới nỗi không phân biệt nỗi chân giả, câu nào họ cũng "khoái được" Hết, cũng như những kẻ đói quá rồi nhai cả cỏ, nuốt cả trùng...

    Chẳng hạn như hai anh em Mdivani, tự xưng là hoàng thân tuy không có lấy một giọt máu vua chúa trong huyết quản. Tại sao anh em y đã chiếm nổi Giải quán quân trong đám đa thê? Họ đã làm tan nát nhiều trái tim đàn bà, cưới được những ngôi sao màn bạc "có danh nhất, và đẹp nhất, những ả danh ca cả thế giới ngưỡng mộ, và những thiếu phụ quý phái có bạc triệu? Họ làm cách nào? Một nữ ký giả của tuần báo Mỹ bàn về họ nói rằng: "Đối với đại chúng, cái đa duyên của hai anh em Mdivani là một trong những điều khó hiểu nhất từ cổ chí kim". Nhưng một đào hát danh tiếng hiểu thấu tâm lý phái mạnh, cho rằng sức quyến rủ mà không một người đàn bà nào chống lại nổi của anh em nhà đó, chỉ ở chỗ nghệ thuật phỉnh nịnh của họ tuyệt luân, nhất là ở trong thời đại vật chất trơ trẽn mà nghệ thuật đó cơ hồ đã gần tuyệt.

    Cả đến nữ hoàng Victoria nước Anh cũng ưa nịnh lắm. Và thủ tướng Disraeli thú rằng ông thường dùng khoa đó trong suốt thời kỳ ông cầm quyền. Có khi ông nịnh nữ hoàng mà không cần giữ ý tứ gì hết, như ông thợ hồ đắp từng bay hồ lên tường. Tuy ông nói vậy, nhưng ta đừng quên trong Sử Anh quốc. Disraeli là một chính trị gia khôn ngoan, mánh lới xuất chúng, không ai bì kịp, đáng bực thầy trong nghệ thuật đó, bạn và tôi không bắt chước được đâu.

    Cho nên đối với ông, chánh sách đó thành công, nhưng thói thường sự nịnh hót rốt cuộc bao giờ cũng hại nhiều hơn lợi cho kẻ nịnh. Nó chỉ là một sự giả dối và, cũng như in giấy bạc giả, thế nào cũng có phen bị bại lộ.

    Vậy thì lời khen tặng và lời nịnh hót khác nhau ở đâu?

    Chính ở chỗ một đàng thành thật tự đáy lòng phát ra và hoàn toàn không vụ lợi, còn một đàng chỉ ở đầu lưỡi, giả dối để kiếm lợi. Lời khen tặng, ai cũng hài lòng. Lời phỉnh nịnh ai cũng khinh bỉ.

    Dưới một pho tượng đồng cổ hìng dung Obregon, người ta có khắc câu này mà hồi sanh tiền đại tướng thường nói: "Ta chớ nên sợ kẻ thù công kích ta, mà rất nên ghê sợ những người bạn nịnh ta".

    Không! Trăm lần không! Tôi không khuyên bạn nịnh hót. Trái hẳn lại! Tôi muốn chỉ bạn một lối xử thế mới kia!

    Xin bạn cho phép tôi nhắc lại "Tôi muốn chỉ bạn một lối xử thế mới".

    Anh hoàng George sai khắc trong ngự tiền văn phòng của ngài sáu câu châm ngôn, trong đó có câu này:

    "Các ông dạy cho tôi đừng nịnh hót mà càng đừng nghe những lời nịnh hót đê tiện".

    Triết gia Emerson lại nói: "Ngôn ngữ không dấu nổi bản tính". Nghĩa là: dù miệng lưỡi khôn khéo tới bực nào, bạn vẫn không giấu được bản tính của bạn.

    Nếu có một tài nịnh là đủ rồi, thì quá dễ, và chúng ta đều thành những nhà ngoại giao đại tài cả.

    Đáng lẻ chỉ nghĩ tới mình thôi, chúng ta nên rán để ý tới người khác, tìm những tánh tốt của họ. Và lúc đó chúng ta sẽ có thể thành thật khen họ mà không cần phải dùng những lời tán dương giả dối để đến nỗi chưa kịp hở môi, chúng ta đã bị lột mặt nạ.

    Emerson lại còn nói: "Bất kỳ người nào tôi gặp cũng có chỗ hơn tôi, đáng cho tôi học". Điều đó đúng với Emerson thì đối với bạn và tôi, còn đúng cả ngàn lần nữa. Đừng nghĩ tới ta nữa, tới tài năng, nguyện vọng của ta mà nghĩ tới đức tính của người.

    Và đả đảo cái thói nịnh đi. Lời khen thành thật và nhân từ phải tự thâm tâm ta phát ra! Đừng tiếc những lời cảm ơn và khuyến khích! Và những lời nói đó, ít lâu sau ta có thể quên đi, nhưng những người được Khen tặng sẽ hoan hỉ và luôn luôn nhắc nhở tới.
  3. Offline

    LucifeR New Member

    Số bài viết:
    815
    Đã được thích:
    87
    Phần Ba


    Hãy Khêu Gợi Ở Người Cái Ý Tự Muốn Làm Công Việc
    Mà Chính Ta Đề Nghị Với Họ


    Tôi thì tôi ưa trái cây. Nhưng không hiểu vì một lẽ bí mật gì, loài cá không ưa trái cây như tôi mà lại ưa trùng. Vì vậy khi đi câu, tôi không nghĩ đến cái tôi thích mà chỉ nghĩ đến cái mà cá thích thôi.Tôi không trái cây vào lưỡi câu để nhử chúng, mà móc vào đó một con trùng hay một con cào cào, rồi đưa đi đưa lại trước miệng cá và hỏi nói: "Cá có thèm không?" .

    Tại sao ta không dùng chiến thuật đó với người? Khi người ta hỏi ông thủ tướng Lloyd George tại sao ông nắm được quyền hành lâu mà ông khác thì bị lật đổ, bị bỏ rơi, ông đáp: "Tôi luôn luôn rán kiếm mồi hợp sở thích của cá".

    Tại sao cứ luôn luôn nói tới cái mà chúng ta muốn? Thực là vô ích, ngây thơ và vô lý. Đã đành, cái gì ta thích thì ta để ý tới luôn, nhưng chỉ có một mình ta để ý tới nó. Vì những ngươì khác họ cũng chỉ nghĩ tới cái họ thích thôi, không cần biết ta thích cái gì.

    Cho nên chỉ một cách dẫn dụ người khác theo mình là lựa cách nói sao cho lời yêu cầu của mình hạp với sở thích của họ và chỉ cho họ cách đạt được sở thích đó.

    Xin bạn nhớ kỹ điều đó. Nếu bạn muốn cấm con bạn hút thuốc chẳng hạn, đừng thuyết giáo với nó, đừng bảo nó: "Ba muốn thế này. Ba muốn thế khác". Trái lại nên chứng minh cho nó thấy rằng chất độc trong thuốc làm hại bộ thần kinh và nều nó không bỏ thuốc đi, thì có lẽ tới kỳ thi thể thao Sau nó sẽ thua anh em mất. Phương pháp đó luôn luôn công hiệu, dù là áp dụng với con nít hay với bò con, với đười ươi. Một hôm, hai cha con triết gia R. W. Emerson muốn dụ một con bê vào chuồng. Nhưng họ mắc phải cái lỗi thông thường là chỉ nghĩ tới cái họ muốn. cho nên cha kéo, con đẩy. Tai hại thay! Con bê cũng như họ. Chỉ nghĩ tới cái nó muốn thôi; chân nó bám vào đất, cứng ngắc, không chịu rời đồng cỏ. Người ở gái thấy tình cảnh đo, chị không biết nghệ thuật viết sách và viết tùy bút, nhưng ít nhất trong trường hợp này, chị cũng có nhiều lương tri hơn triết gia Emerson. Chị nhữ con bê, đưa ngón tay vào mõm con vật, như mẹ cho con bú, và con vật ngoan ngoãn đi theo ngón tay chị vào chuồng.

    Ngay từ hồisơ sinh, bất kỳ hành động gì của ta cũng vì lợi hết. Ta cho một hội thiện năm trăm đồng ư? Có chắc là hoàn toàn không vị lợi không? Không. Bởi ta coi như vậy là để được tiếng hảo tâm, để thỏa lòng ưa làm một việc nhân từ, đẹp đẽ và cao cả và để phước về sau. Vì thánh kinh có nói rằng: "Con bố thí tức là cho cha vậy". Hoặc vì không từ chối được, vì sợ mắc cỡ... hay vì muốn làm vui lòng một bạn thân, một thân chủ. Dù sao đi nữa cũng có một điều chắc chắn là ta đã cho vì ta muốn thỏa mãn một thị dục. Trong cuốn thuật dẫn dụ cách cư xử của loài người, giáo sư Harry A. Overstreet viết: "Hành động do những thị dục căn bản của ta mà phát sanh. để tặng những ai muốn dẫn dụ người khác trong việc làm ăn, trong chính trị cũng như trong trường học hay gia đình, chỉ có lời khuyên này là hơn cả: Trước hết, phải gợi trong lòng người một ý muốn nhiệt liệt nghe theo ta". Làm được như vậy thì cả thế giới giúp ta thành công và suốt đời, chẳng bao giờ ta bị thất bại và cô độc.

    Andrew Carnegie, hồi nhỏ chỉ được học có bốn năm, nhưng vì sớm hiểu bí quyết đó, nên hồi kiếm ăn mỗi giờ công có bốn xu, mà tới sau này tính ra ông đã quyên vào những việc từ thiện tới ba trăm sáu mươi lăm triệu đồng.

    Ông có hai đứa cháu làm cho mẹ lo lắng nhiều lắm vì đi học xa mà không bao giờ viết thư về nhà. Ông có cách không buộc trả lời mà chúng trả lời lập tức. Ông viết một bức thơ ngọt ngào lắm rồi tái bút: "Gởi cho mỗi cháu 5$". Nhưng ông làm bộ quên không gởi tiền. Tức thì thư có hồi âm liền, trong đó hai cháu cám ơn "Chú Andrew thân mến" và... Và gì nữa, chắc các bạn đã đoán được.

    Vậy ngày mai, nếu ta muốn cho ai làm một việc gì, ta hãy thong thả suy nghĩ và tự hỏi: Làm sao dẫn dụ cho ông ấy muốn làm việc mình cầu ông ấy đây?

    Như vậy khỏi phải chạy lại nhà người ta để rồi chỉ nói về dự định của mình, mà luống công vô ích.

    Mỗi năm một lần, tôi mướn một phòng khiêu vũ tại một khách sạn lớn ở Nữu Ước để diễn thuyết.

    Có lần tới kỳ diễn thuyết, người ta thình lình cho tôi hay rằng tiền mướn phòng tăng lên gấp ba giá cũ. Khi đó tôi đã quảng cáo, in vé Xếp dọn đâu vào đó rồi. tất nhiên là tôi không muốn trả giá đó. Làm sao bây giờ? Đi kêu ca với người quản lý khách sạn đó ư? Đem cái thắc mắc của mình tỏ với người ta ư? Ích lợi gì đâu? Người đó cũng như tôi, chỉ quan tâm tới điều họ muốn thôi. Tôi suy nghĩ và hai ngày sau tôi lại tìm người đó, và nói:

    "Nhận được thư ông, tôi hơi ngạc nhiên. Nhưng tôi không trách ông đâu. Ở vào địa vị ông, có lẽ tôi cũng hành động như ông. Bổn phận của ông quản lý khách sạn này là thâu cho được nhiều lợi. Nếu ông không làm như vậy thì người ta sẽ mời ông ra và như vậy là đáng lắm... Nhưng nếu ông quyết giữ cái giá đó thì xin ông lấy một mảnh giấy và chúng ta cùng xét xem lợi và hại ra sao".

    Rồi tôi gạch một dọc chia tờ giấy ra là hai, một bên để "lợi" một bên để "hại".

    Trong cột "lợi", tôi biên mấy chữ này: "Phòng khiêu vũ sẽ trống" và tôi bàn miệng thêm: "Như vậy, ông có thể cho mướn để khiêu vũ hay hội họp. Lời lắm, vì khi đó giá mướn sẽ cao hơn nhiều, phải không, ông? Nếu tôi chiếm phòng ấy trong ba tuần, chắc chắn là thiệt cho ông số lời ấy". Bây giờ chúng ta xét tới "hại", trước hết đáng lẽ tăng số lời lên được, ông sẽ không thu được một đồng nào hết, vì tôi không đủ sức trả giá ông định sẽ đi mướn nơi khác để diễn thuyết.

    "Vả lại còn mất cái lợi này nữa. tôi diễn thuyết, sẽ có nhiều thính giả thượng lưu, có học, giàu có và danh tiếng tới nghe. Thực là một sự quảng cáo cực tốt cho ông. Ông cứ bỏ 5.000$ quảng cáo trên báo, không chắc đã quyến rủ được một số thính giả như vậy tới khách sạn ông. cái đó cũng đáng kể, phải không ông?" .

    Vừa nói tôi vừa viết hai điều hại đó trong cột "hại", rồi đưa tờ giấy cho ông ta và nói: "Xin ông cân nhắc kỹ lưỡng lợi và hại đi, rồi cho tôi biết quyết định ra sao".

    Hôm sau, tôi nhận được một bức thư cho hay rằng tiền mướn đáng lẽ tăng lên 300 phần trăm thì chỉ tăng lên năm mươi phần trăm thôi.

    Xin các bạn để ý rằng tôi không hề xin giảm giá nhé. Trong suốt câu chuyện tôi chỉ nói tới điều mà ông ta quan tâm tới, tôi chỉ tìm kiếm và bày tỏ cho ông ta cách đạt được ý muốn đó thôi.

    Nếu tôi theo sự xúc động tự nhiên trong lòng mà chạy tới kiếm ông ta, la lên: "Cái gì lạ lùng vậy? Tự nhiên ông tăng tiền mướn lên ba trăm phần trăm khi ông biết chắc rằng tôi đã quảng cáo rồi, đã in vé rồi? Ba trăm phần trăm! Kỳ cục không? Điên rồi mà! Không khi nào tôi chịu giá đó đâu!".

    Và chuyện sẽ Xảy ra sao? Chắc chắn là chúng tôi sẽ cãi nhau và các bạn biết cãi nhau thường thường kết quả ra sao. Dù tôi phải làm cho ông ta phải tự nhận rằng ông có lỗi đi nữa thì lòng tự ái của ông ta cũng không chịu thua và chấp nhận lời tôi yêu cầu.

    Henry Ford nói: "Bí quyết thành công, nếu có, là biết tự đặt mình vào địa vị người và suy xét vừa theo lập trường của người vừa theo lập trường của mình".

    Trong nghệ thuật dùng người, chưa có lời khuyên nào chí lý bằng lời đó, cho nên tôi muốn nhắc lại: "Bí quyết thành công là biết tự đặt mình vào địa vị người và suy xét vừa theo lập trường của người, vừa theo lập trường của mình". Chân lý đó giản dị minh bạch làm sao! Đáng lẽ ai cũng biết ngay. Thế mà trong một trăm người, thì có tới chín mươi người không biết đến, trong chín mươi chín trường hợp.

    Bạn muốn có một thí dụ ư? Thì ngày mai tới sở, bạn cứ xem xét những thư bạn nhận được, sẽ thấy sự thiếu lương tri đó. Đây là một bức thư chép nguyên văn, nói cho đúng hơn, là một tờ châu tri, của ông giám đốc một hãng quan trọng chuyên môn quảng cáo bằng vô tuyến điện gởi cho mỗi ông quản lý các sở vô tuyến điện trong nước.

    Gởi ông John Blank ở Blankville Ông Blank thân mến,

    Công ty Megavox chúng tôi muốn giữ vững ưu thế vẫn có từ trước tới nay trong địa hạt quảng cáo bằng vô tuyến điện.

    Tôi không cần biết điều ông muốn. Tôi đương lo lắng việc của tôi đây. Ngân hàng không chịu cho tôi cố nhà của tôi thêm một hạn nữa... Sâu ăn hết bông hồng của tôi... hôm qua chứng khoán xuống giá... tôi lỡ Xe điện sáng nay... chiều qua người ta không mời tôi dự tiệc... y sĩ bảo tôi bị động mạch, bị bệnh thần kinh viêm. Tôi đương quạu đây thì đọc nhằm bức thư của một kẻ tự thị chỉ nói đến dự định của y, ý muốn của y thôi! Cha chả là ngu! Vậy mà làm nghề quảng cáo chứ!.

    Việc quảng cáo của Quốc gia, nhờ công ty chúng tôi truyền thanh đã mở đường cho lối quảng cáo mới đó. Và những chương trình phát thanh của chúng tôi từ hồi đó tới nay đã cho chúng tôi một địa vị cao hơn những hãng khác.

    À, phải! Hãng ông giàu nhất, mạnh nhất. Rồi sao? Cái đó liên can gì tới tôi đâu? Ông không thông minh chút nào hết. Ông chỉ khoe sự thành công mênh mông của ông thôi, như vậy là làm cho tôi cảm thấy địa vị thấp kém của tôi, ông biết chưa? .

    Chúng tôi muốn cho khách hàng biết rõ tất cả tình hình các sở vô tuyến điện.

    Ông muốn! Ông muốn! Đồ ngu! Tôi không cần biết ông muốn cái gì hết; hãy nói tôi nghe cái mà tôi muốn.

    Vậy xin ông gởi ngay cho chúng tôi những điều nên biết về chương trình và thời biểu. Những điều đó cần cho chúng tôi mỗi tuần để lữa kỹ những giờ phát thanh tiện hơn hết.

    Gởi ngay cho ông! cả gan thật! Cũng không thèm thêm câu: nếu không làm phiền ông nữa!.

    Ông trả lời gấp, tức là lợi chung cho chúng ta.

    Thằng khùng! Nó dám biểu mình trả lời gấp cho nó, trong khi mình lo lắng hết việc này việc khác. Mà bức thư của nó có khác gì một tờ châu tri không? Tôi không ưa cái giọng đàn anh đó. Thôi đi!... Ủa! Ông nói gì tới cái "lợi chung của chúng ta" đó? À! Tới bây giờ ông mới đặt ông vào quan điểm của tôi... nhưng cách ông nói mơ hồ làm sao! Không rõ ràng, không giảng giải chi hết.

    "Chân thành chào ông. ký tên:... Giám đốc tái bút: Có lẽ ông muốn biết đoạn trích sau này trong tờ báo Blankville và muốn truyền thanh nó trong đài của ông".

    Mãi tới cuối thư, trong chỗ tái bút ông mới chỉ cho tôi một điều có ích cho tôi. Tại sao không đem ra nói trước đi? Một người tự phụ là nhà quảng cáo chuyên môn, tất phải ngu độn lắm mới vụng về như vậy.

    Một người suốt đời làm nghề quảng cáo tự cho mình là thần thánh trong nghệ thuật dẫn dụ người khác mà còn viết một bức thư vô lý như vậy, thì những ông thợ may, làm nệm, làm vườn mới ra sao nhỉ?

    Đây, một bức thư nữa của ông chủ sự một nhà ga lớn gởi cho ông Edward Vermylen, theo lớp học của tôi. Người đọc nó có ấn tượng gì? Tôi sẽ cho bạn hay. Nhưng chúng ta hãy đọc đã.

    Xin ông Edward Vermylen chú ý.

    Thưa ông, vì hàng hóa cứ chiều mới tới ga chúng tôi, cho nên sự khuân hàng lên Xe có điều trở ngại: công việc nhiều quá, phải bắt người làm công làm thêm giờ, xe cam nhông phải trễ. Ngày mười tháng mười một, chúng tôi nhận được của ông hồi bốn giờ hai mươi phút một lô là năm trăm mười cái thùng.

    Chúng tôi xin ông giúp chúng tôi để tránh những bất tiện đáng tiếc do tình thế đó mà ra. Vậy chúng tôi tự tiện xin phép ông, nếu có thể được, thu xếp sao cho hàng của ông tới ga chúng tôi vào buổi sáng, nhất là những khi ông gởi nhiều hàng.

    Được như vậy thì ông có lợi là hàng của ông ở trên xe cất xuống mau và gởi đi cũng mau.

    "Trân trọng... Ký tên: J.B."

    Ông Vermylen đưa bức thư cho tôi coi và bình phẩm như vầy: "Thư đó có kết quả ngược lại với ý muốn của người viết. Đầu thư, người ta kể những nỗi khó khăn của công ty hỏa xa, cái đó ích lợi gì cho mình đâu? Rồi người ta xin mình phụ lực với người ta, sau cùng mới hứa sẽ cất hàng và gởi hàng cho mình mau hơn trước. Tóm lại, cái quan hệ tới mình nhất thì họ để lại sau cùng và xét toàn thể thì thư đó khêu gợi sự phản đối hơn là sự hợp tác".

    Nay ta thử tìm cách sửa chữa bức thư đó cho hợp hơn. Trước hết đừng nói đến những vấn đề riêng của mình, tốn công vô ích. Phải theo lời khuyên của Ford: "Đặt ta vào địa vị người mà suy xét theo quan điểm của người". Bức thư sửa chữa như sau này, tuy chưa được hoàn toàn, nhưng so với bức trên cũng tấn tới nhiều rồi.

    Ông Vermylen thân mến,

    Chúng tôi được hân hạnh ông chiếu cố tới trong mười bốn năm nay. Tất nhiên là chúng tôi mang ơn ông nhiều lắm và hết lòng tìm cách gởi hàng cho ông được mau chóng.

    Nhưng chúng tôi phải thú rằng điều đó khó thi hành lắm, khi xe cam nhông của ông tới cuối giờ làm việc buổi chiều, như ngày mười tháng mười một vừa rồi. Tại sao? Vì một số đông khách hàng khác cũng giao hàng cho chúng tôi vào lúc đó. Thành thử nhiều quá, làm không xuể và xe của ông phải đợi, hàng của ông phải gởi trễ.

    Điều đó rất đáng tiếc. Tránh nó cách nào? Bằng cách ông giao hàng cho tôi vào đầu buổi chiều, như vậy xe ông khỏi phải đợi, hàng của ông gởi cho mau và những người làm công của ông về nhà được sớm để hưởng món mì ống tuyệt khéo mà hãng ông chế tạo ra.

    Xin ông đừng cho rằng chúng tôi kêu nài ông đâu; cũng xin ông đừng nghi rằng chúng tôi dám tự tiện chỉ ông cách làm việc đâu. Tôi gởi hầu ông bức thư trước hết. Dù hàng của ông tới giờ nào đi nữa thì chúng tôi cũng rất vui lòng nhận và gởi đi mau chừng nào hay chừng nấy.

    Chúng tôi biết rằng ông bận nhiều việc lắm, xin ông đừng mất công trả lời thư này.

    Trân trọng...

    Ký tên: J.B.

    Có cả hàng người bán dạo, lang thang khắp phố phường, mỏi mệt, thất vọng, lương ít. Tại sao? Tại họ chỉ nghĩ tới họ, tới cái mà họ đương tìm kiếm. Họ không hiểu rằng bạn cũng vậy mà tôi cũng vậy, chúng ta đều không muốn mua nghĩa là tiêu tiền mà chỉ muốn giải quyết những vấn đề riêng tây của chúng ta thôi. Mà người bán hàng nào giúp chúng ta giải quyết được những cái đó, chỉ cho ta hiểu rằng mua hàng của họ giúp thì chúng ta sẽ đỡ tốn tiền, đỡ mệt nhọc, khỏi buồn bực, khỏi đau, có tương lai vững vàng thì kẻ đó không ép uổng chúng ta mà sẽ làm chúng ta tin và như vậy chúng ta sẽ mua!

    Vậy mà biết bao người suốt đời bán hàng mà không hề nghĩ tới quan điểm của người mua.

    Một hôm, tôi gặp lại một người trước kia làm biện sự một hãng cho mướn nhà, tôi hỏi ông ta có thể cho tôi biết nhà tôi ở tường xây bằng gạch đặc hay gạch rỗng. Ông nói rằng không biết và khuyên tôi hỏi nghiệp đoàn kiến trúc sư.

    Điều đó ai mà không biết, cần chi phải nhờ tới ông.

    Rồi sáng hôm sau, tôi nhận được của ông một bức thư. Trả lời câu hỏi của tôi chăng? Không. Để khuyên tôi một lần nữa: nên hỏi nghiệp đoàn kiến trúc sư và cậy tôi làm đại lý bảo hiểm cho ông.

    Ông ấy mong tôi làm lợi lớn cho ông mà không chịu giúp cho tôi một việc nhỏ.

    Bất kỳ trong nghề nghiệp nào, trong giai cấp nào, người ta cũng thấy lỗi lầm quan trọng đó. Một lần đau cuống họng, tôi lại một nhà chuyên trị bệnh đó. Chưa coi họng tôi, ông đã hỏi tôi làm nghề gì... Bệnh của tôi, ông chưa muốn biết, mà cần biết cái ví tiền của tôi. Ông ấy không tính cách giúp tôi Mà tính cách "bóp" tôi. Rốt cuộc là ông ta không nặng được của tôi đồng nào hết, vì tôi bỏ đi ra, tỏm cho cái lòng tham của ông.

    Than ôi! Xã hội đầy những hạn như vậy, tham lam, hẹp hòi và ích kỷ. cho nên nếu có siêu nhân nào tìm cách tận tâm giúp người mà không vụ lợi, thì trong công việc của vị ấy chắc là ít ai cạnh tranh lắm.

    Ông O. D. Young, nhà kinh tế trứ danh, nói: "Người nào biết tự đặt mình vào địa vị người khác, hiểu được tư tưởng và ý định của họ, người đó khỏi phải lo về tương lai của mình".

    Nếu đọc cuốn này rồi, các bạn chỉ tập được một khả năng là: bất cứ trong trường hợp nào cũng đứng vào địa vị của người khác mà xét, thì cuốn này cũng đã đánh dấu được một quãng đời mới trong đời làm ăn của bạn!

    Tại sao người ta nhãng bỏ khoa tâm lý thực hành như vậy mà nhồi sọ biết bao nhiêu món vô ích khác. Một người học trò của tôi muốn mời bạn chơi banh ro với mình mà viết thư như vầy: "Tôi muốn các anh lại sân của tôi chơi banh rổ. Tôi thích trò đó lắm mà lần trước ít bạn quá, không đủ làm một kíp... Chơi như vậy còn thú gì nữa!... Cho nên tôi muốn rằng ngày mai các anh lại... Banh rổ là môn thể thao thích nhất của tôi mà tôi không có đủ bạn chơi..."

    Viết như vậy mà đòi làm cho người ta muốn lại chơi với mình! Người học trò đó chỉ nói tới mình thôi, không hề có một lời khuyến khích bạn. Vậy thì có lý gì mà bạn y sẽ tới chơi trên cái sân mà lần trước y mời, không ai thèm tới hết?

    Mà có biết bao nhiêu lý lẽ để dụ bạn được: nào là ích lợi của thể thao giữa trời, thân hình khỏe mạnh, cân đối, vui vẻ...

    Một người học trò của tôi, có đứa con làm biếng ăn. Vợ chồng người đó rầy nó suốt ngày, không cho nó yên:

    "Má muốn con ăn cái này..."

    "Ba muốn cho con mau lớn..."

    Đứa nhỏ có kể vào đâu những lời đó. Có gì vô lý bằng bắt một đứa nhỏ ba tuổi có quan niệm của người lớn ba chục tuổi? Sau người đó tự hỏi: "Thử coi xem cái gì làm cho nó thích? Nó muốn gì? Nếu biết được nó muốn gì thì mình sẽ có thể khiến nó làm cái mình muốn được". Và người đó kiếm ngay được cách giải quyết. Đứa nhỏ thích đạp xe ba bánh lắm nhưng cùng dãy phố đó có một đứa nhỏ khác lớ hơn, hung hăng ăn hiếp nó, ngừng xe nó lại, bắt nó xuống rồi leo lên đạp. Đứa nhỏ khóc, chạy về mách má. Má nó ra đuổi đứa kia đi, lấy xe lại cho con. Ngày nào cũng như vậy.

    Vậy đứa nhỏ muốn gì? Chẳng cần phải là nhà trinh thám đại tài cũng đoán được. Nó bị ăn hiếp, nó tức, muốn trả thù, làm sao đánh cho đứa kia một "cú" nên thân để cho Nó ớn tới già. Ba nó biểu vậy, bảo nó: "Nếu con chịu ăn những món này thì con mạnh lắm, một ngày kia đánh nó nhào văng liền". Và vấn đề ăn của đứa bé được giải quyết tức thì. cho nó cái gì nó cũng ăn, hy vọng một ngày nọ "nốc ao" thằng du côn kia đã làm cho nó tủi nhục biết mấy lần.

    Đứa nhỏ lại còn tật đái dầm. Nó ngủ với bà nó. Sáng dậy, thấy tấm "ra" ướt, bà nó bảo: "Ngó này, đêm qua lại đái dầm nữa". Nó cãi: "Không phải tôi đâu. Bà đó".

    Người ta rầy nó, đánh nó, làm nhục nó. Người ta nhắc cho nó rằng: "Má không muốn cho con như vầy nữa". Vô ích những lý lẽ đó không đủ. Lúc đó cha mẹ mới tự hỏi: "Làm sao cho nó muốn sửa lỗi được".

    Nó muốn gì, đứa nhỏ đó? Trước hết, nó muốn bận bi gia ma như cha nó. Ba nó hứa mua cho nó một bộ nếu nó hết đái dầm. Điều thứ nhì nó muốn giường nó sạch.

    Má nó dắt nó tới tiệm lớn, đưa mắt làm hiệu với người bán hàng và nói: "Đây, cậu này muốn mua đồ đây". Người bán hàng làm bộ coi đứa bé như một người quan trọng, hỏi: cậu muốn mua chi? Đứa nhỏ cao lên được vài phân, nở mũi đáp: "Tôi muốn mua một cái giường".

    Giường chở về nhà rồi, đứa nhỏ chạy kiếm ba nó, khoe. "Ba, ba, lên coi giường của con đi, chính con đã mua đó!" Cha nó hết lời khen nó rồi kết: "Con đừng làm dơ cái giường đó chứ!". Không! Không khi nào! Đứa nhỏ giữ lời hứa. vì người ta khéo gợi lòng tự ái của nó. Cái giường Đó là giường của nó. Rồi nó lại bận bi gia ma như người lớn, nó muốn hành động cũng như người lớn và quả được như vậy.

    Một người cha khác có đứa con gái nhất định không ăn cháo buổi sáng. Mắng, giảng giải, dỗ ngọt, đều vô hiệu. Cha mẹ hỏi nhau: "Làm sao cho nó thèm ăn sáng được?" .

    Đứa nhỏ thích bắt chước má nó lắm. Một hôm, người ta đặt nó lên một chiếc ghế cao, để cho nó nấu món cháo của nó... Rồi, đúng lúc nó đương vinh hạnh, ba nó vào, như vô tình. Đứa nhỏ khoe, khua muỗng trong cái soong: "Ba, ngó này! Hôm nay chính con nấu cháo".

    Rồi nó ăn hai đĩa cháo, không phải ai mời mọc hết: Chính nó đã nấu cháo đó, nó tự đắc lắm, nó tự thấy quan trọng lắm. tự ý nó ăn.

    Một triết gia nói: "Phát biểu cái bản ngã là một điều cần thiết nhất đối với ta". Thế thì tại sao không dùng cái thuật ở trên kia trong công việc của ta? Khi ta kiếm được ý nào mới lạ, cứ để cho khách hàng của ta hoặc người cộng tác với ta tưởng rằng chính họ có ý đó, như cha mẹ đứa nhỏ đã để cho nó tin rằng chính nó đã nấu lấy cháo. Như vậy người khác sẽ tự đắc lắm... và biết đâu chẳng như đứa nhỏ, đòi cho được hai đĩa cháo?

    Xin các bạn nhớ kỹ rằng:

    Muốn dẫn dụ ai, phải trước hết khêu gợi cho người đó có lòng ham muốn nhiệt liệt đã. làm được Như vậy, thì người trong bốn bể sẽ là bạn của ta. Làm không được, thì ta sẽ thui thủi trên đường đời.
  4. Offline

    LucifeR New Member

    Số bài viết:
    815
    Đã được thích:
    87
    Phần Bốn


    Tám Lời Khuyên Để Giúp Các Bạn
    Đọc Sách Này Được Nhiều Lợi Ích Nhất


    Muốn đọc cuốn sách này được nhiều lợi ích nhất, cần có một đức tính cốt yếu, quan trọng hơn cả các định lệ và quy tắc. Không có nó thì bài học hay tới mấy cũng không bổ ích gì, mà có nó thì không cần những bài đó cũng làm được những việc phi thường.

    Vậy điều kiện mầu nhiệm đó là gì? Rất giản dị: là phải có lòng ao ước thiết tha muốn tìm hiểu thêm, và một cường chí quyết bồi bổ năng lực xử thế dụng nhân của mình.

    1.Làm sao luyện được chí đó? Bằng cách luôn luôn tâm niệm rằng những quy tắc dạy trong tập này vô cùng quan trọng. Bạn hãy tự nhắc luôn luôn rằng: "Hạnh phúc của ta, sự thành công của ta, danh vọng, tiền của của ta phần lớn đều do sự khôn khéo trong khi giao thiệp với người mà có".

    2. Bạn đọc một lần mỗi chương để hiểu đại cương. Rồi có lẽ bạn muốn hấp tấp coi tiếp ngay chương sau. Xin đừng. Phải đọc kỹ một lần nữa. Như vậy đỡ tốn thì giờ mà có nhiều kết quả.



    3. Phải thường thường ngưng đọc để suy nghĩ những điều mới đọc và tự hỏi: lời khuyên đó, lúc nào có thể áp dụng được và áp dụng ra sao?. Như vậy mới bổ ích.



    4. Tay nên có cây viết chì hoặc viết máy để đánh dấu ở ngoài lề những lời khuyên nào mà bạn tính thi hành. Nếu là một quy tắc cực kỳ quan trọng thì gạch dưới nó, hoặc đánh bốn chữ x: "xxxx" ở ngoài lề. Như vậy, khi coi lại, mau và dễ thấy hơn.


    5. Tôi biết một người đã làm giám đốc một công ty bảo hiểm lớn từ mười lăm năm rồi. Vậy mà mỗi tháng ông đọc hết những điều lệ bảo hiểm của công ty, tháng nào cũng vậy, hết năm này qua năm khác. Tại sao? Tại kinh nghiệm cho ông hay rằng chỉ có cách đó mới nhớ kỹ hết được thôi. Riêng phần tôi, tôi đã có lần để ra hai năm trời để viết cuốn sách về sự hùng biện, vậy mà tôi vẫn phải thỉnh thoảng coi lại cuốn đó để khỏi quên những điều chính tôi đã viết ra. Sự mau quên của loài người thật lạ lùng, đáng làm cho ta ngạc nhiên. Vậy, nếu bạn muốn cuốn sách này giúp ích cho bạn được lâu dài, xin đừng tưởng rằng chỉ cần đọc nó một lần là đủ. Sau khi nghiên cứu nó kỹ rồi, mỗi tháng nên để ra vài giờ ôn lại. Bạn đặt nó luôn luôn trên bàn giấy và thường mở nó ra. Đầu óc bạn phải thấm nhuần những khả năng đẹp đẽ n ó cải thiện đời bạn, những khả năng mà bạn chưa có còn phải chinh phục nữa. Xin bạn nhớ rằng chỉ có cách luôn luôn thấy ở trước mắt những quy tắc đã trình bày, mới có thể áp dụng nó được một cách tự nhiên, không khó nhọc như cái máy và làm những quy tắc đó thành ra bản tính thứ nhì của bạn. Ngoài ra không có cách nào khác.


    6. Bernard Shaw nói rằng học không, không đủ, phải thực hành nữa. đã học thì phải hành. Ông nói có lý. muốn học phải hoạt động, chớ không thụ động. Nhờ thực hành mới tiến được. Vậy muốn thấm nhuần những quy tắc này, hễ có cơ hội, xin bạ thực hành liền. Nếu không, sẽ mau quên lắm. Tôi cũng biết điều đó khó khăn. Vì chính tôi cũng có khi thấy khó thi hành những điều tôi chỉ cho các bạn. Ví dụ khi bạ bực tức, tự nhiên muốn chỉ trích, khiển trách chứ không nghĩ tới sự tự đặt mình vào địa vị người. Kiếm một tật xấu của người dễ hơn là tìm cái hay của họ. Ta tự nhiên muốn nói tới những việc ta đương lo nghĩ hơn là nói tới những đầu đề làm cho người khác vui lòng. Cho nên bạn phải nhớ rằng đọc sách này không phải để hiểu biết thêm mà là để luyện cho có những tập quán mới, để dự bị một lối sống mới. Như vậy cần phải mất công kiên nhẫn, chăm chú hàng ngày. Vậy, xin bạn thường mở những trang này ra. Cuốn này phải là kim chỉ nam của bạn trong sự giao thiệp với người. Và khi bạn gặp một vấn đề như sửa lỗi một đứa nhỏ, làm sao cho bạn trăm năm vừa ý với bạn, hoặc làm cho một khách hàng đương giận mà được hài lòng thì xin bạn hãy suy nghĩ một chút đã, chống cự với xúc động đầu tiên, đừng để cho nó lôi cuốn vì thường nó có hại, l úc đó xin bạn hãy nhớ tới cuốn này, hoặc nếu có thì giờ thì mở ra coi, đọc lại những đoạn đã đánh dấu. Áp dụng những quy tắc trong đó và bạn sẽ thấy những kết quả phi thường.


    7. Bạn đặt điều lệ với người nhà hoặc bạn bè rằng hễ gặp bạn làm trái quy tắc nào đó thì bạn phải chịu phạt một số tiền. Phải làm sao cho sự học tập của bạn thành ra một trò chơi vui mà mê được.


    8. Ông hội trưởng một ngân hàng lớn ở Nữu Ước, sau khi nghe vài bài giảng của tôi, có tả rõ cách sửa mình của ông như sau này mà chính ông đã kiếm ra được từ lâu. Nó vô cùng hiệu nghiệm. Ông học ít lắm, nhưng là một trong những nhà tài chánh lớn nhất ở châu Mỹ, ông thú rằng chỉ nhờ phương pháp của ông mà ông thành công.

    "Từ lâu rồi, ông nói, tôi ghi trên một cuốn lịch những công việc buôn bán mỗi ngày. Tối thứ bảy, tôi không tiếp ai hết, để tự xét mình. Ăn tối rồi, tôi cấm cung trong phòng giấy của tôi, mở cuốn sổ tay ra, suy nghĩ về mỗi câu chuyện, mỗi lần bàn cãi, mỗi cuộc thương nghị, mỗi vụ chạy chọt trong tuần lễ đó. Tôi tự hỏi:

    - Lần đó, ta đã lỡ lầm chỗ nào?

    - Đã hành động khéo chỗ nào? Có thể khéo hơn được không? Ra làm sao? Z - Sự lôi thôi đó cho ta bài học gì?

    Có khi tự xét như vậy, tôi thấy đau khổ lắm; có khi tôi lấy làm lạ sao đã lỡ lầm lỡ nặng nề như thế được. Nhưng tôi càng lớn tuổi thì lầm lỡ càng ít đi và có khi còn muốn tự vỗ vai và khen mình nữa. Chưa có gì giúp tôi nhiều bằng phương pháp tự xét và tự cải đó.

    Nhờ nó mà tôi xét đoán chắc chắn, minh mẫn hơn, các sự quyết định của tôi thích đáng hơn, và giúp tôi rất nhiều trong sự giao thiệp với mọi người. Tôi xin nhiệt liệt giới thiệu nó với "hải nội chư quân tử".

    Tại sao các bạn không dùng một phương pháp tương tự để kiểm điểm lại cách các bạn áp dụng những quy tắc trong tập này ra sao? Nếu các bạn quyết tâm làm, sẽ có hai cái lợi:

    Thứ nhất: các bạn sẽ say mê học được một môn học có giá trị vô song về phương diện giáo hóa. Thứ nhì: các bạn sẽ nhận thấy rằng khả năng của bạn làm đẹp lòng và dẫn dụ người khác sẽ nẩy nở rực rỡ như bông đào về tiết xuân vậy.

    Tóm lại: muốn đọc sách được nhiều ích lợi nhất, phải:

    Có lòng ham muốn học hỏi và thi hành những định lệ chi phối sự giao thiệp giữa loài người với nhau.

    Đọc mỗi chương hai lần, rồi mới qua chương sau.

    Thỉnh thoảng ngưng đọc để tự hỏi nên thi hành những quy tắc ra sao và vào lúc nào?

    Gạch dưới những ý chính.

    Mỗi tháng coi lại cuốn này một lần.

    Hễ có cơ hội thì phải thực hành ngay những quy tắc học được. Dùng cuốn này làm kim chỉ nam để giải quyết những nổi khó khăn hàng ngày.

    Tặng cho bạn thân một số tiền nào đó mỗi khi bạn gặp ta làm trái với những quy tắc đó. Như vậy để làm cho sự học biến thành một trò chơi hứng thú.

    Mỗi tuần kiểm điểm những tấn tới hoặc những sai lầm của mình. Bạn hãy tự xét coi đã bồi bổ được khuyết điểm nào và trong dịp nào.
  5. Offline

    LucifeR New Member

    Số bài viết:
    815
    Đã được thích:
    87
    Phần Năm


    Để Cho Tới Đâu Cũng Được
    Tiếp Đón Niềm Nở


    Thật tình bạn cũng chẳng cần đọc sách này mới biết cách đắc nhân tâm. Bạn chỉ cần áp dụng những phương pháp thu phục cảm tình của một con vật mà cả hoàn cầu không ai không thương mến.

    Lát nữa, ra đường bạn sẽ gặp nó. Khi còn xa bạn chừng mười bước, nó đã bắt đầu ve vãy đuôi rồi. Nếu ngừng lại mà vuốt ve nó thì nó chồm lên và tỏ ra trăm vẻ yêu thương và bạn có thể biết chắc chắn rằng trong sự nồng nàn đó không có một mảy may vụ lợi, vì nó chẳng cầu bạn mua giúp một vài món hàng ế, mà cũng chẳng ham gì được kết duyên cùng bạn.

    Có bao giờ bạn ngừng lại một phút mà suy nghĩ rằng trên vũ trụ này, chỉ có con chó là không cần làm việc mà cũng sống một cách ung dung không? Ta nuôi gà, vì gà cho ta trứng; ta nuôi bò, vì bò cho ta sữa, mà ta có nuôi chó chỉ vì cái lý độc nhất là nó cho ta cái êm đềm của tình thương.

    Trong những kỷ niệm êm đềm nhất của tuổi thơ, tôi còn nhớ đén con cún của tôi, một con chó nhỏ, lông vàng, đuôi cụt mà cha tôi mua cho tôi có năm sắc. Cún chưa hề đọc một trang sách tâm lý nào hết. Nó không cần đọc. Giáo sư William James, giáo sư Harry A. Overstreet, không ngày nào dạy được cho nó một chút nghệ thuật làm đẹp lòng người. Nhưng nó có phương pháp hoàn toàn để làm mọi người yêu nó: là chính nó, nó yêu mọi người. Lòng yêu thương đó tự nhiên và chân thành tới nỗi tôi không thể không mến nó được.

    Các bạn muốn gây thiện cảm không: hãy làm như con cún: quên mình và thương người.

    Con cún hiểu rằng nếu sốt sắng quan tâm tới người, thì chỉ trong hai tháng sẽ có nhiều bạn thân hơn là hai năm kiếm đủ cách làm cho người ta phải quan tâm tới mình. Tôi phải nhắc lại câu đó:

    Nếu các bạn sốt sắng thành thật quan tâm tới người khác thì chỉ trong hai tháng sẽ có nhiều bạn thân hơn là hai năm gắng công bắt người khác quan tâm tới các bạn.

    Vậy mà biết bao người một đời lầm lỡ không chừa, không biết định luật đó. Họ nhất định muốn người khác phải chú ý tới họ. Công dã tràng... Thiên hạ không nghĩ tới bạn đâu. Họ nghĩ tới họ, sáng, chiều và tối.

    Công ty điện thoại ở Nữu Ước mới điều tra xem trong khi đàm thoại tiếng nào được dùng nhiều nhất. Các bạn đã đoán được... Đó là tiếng "tôi". Trong năm trăm câu chuyện thì người ta dùng nó tới 3.900 lần "Tôi", "Tôi", "Tôi"...

    Khi bạn coi tấm hình trong đó có bạn chụp chung với những người khác, thì thứ nhất mà bạn ngó là Ai?

    Nếu bạn tin rằng mọi người đều chú ý tới bạn, thì xin bạn trả lời câu này: "Nếu bạn chẳng may chiều nay từ trần thì có bao nhiêu người đi tiễn bạn tới huyệt?" .

    Tại sao người khác quan tâm tới bạn trong khi bạn không quan tâm tới người ta trước? Xin bạn cầm cây viết chì và trả lời câu hỏi đó trong hàng bỏ trắng dưới đây.

    Nếu chúng ta chỉ gắng sức kích động người khác để cho họ chú ý tới ta thì không bao giờ có bạn chân thành hết. Đó không phải là cách gây được tình tri kỷ.

    Alfred Adler, triết gia trứ danh, viết một cuốn sách rất hay đề là chân nghĩa của cuộc đời, trong đó ông nói: "Kẻ nào không quan tâm tới người khác, chẳng những sẽ gặp nhiều sự khó khăn nhất trong đời, mà còn là người có hại nhất cho xã hội. hết thảy những kẻ thất bại đều thuộc hạng người đó". Các bạn có thể đọc hàng tá những cuốn sách về tâm lý mà không kiếm được một lời vừa đúng vừa nhiều nghĩa như câu đó. Tôi rất ghét nói đi nói lại. Nhưng lời tuyên bố của ông Adler quan trọng tới nỗi tôi phải chép lại nó lại lần nữa:

    Kẻ nào không quan tâm tới người khác, chẳng những sẽ gặp nhiều khó khăn nhất trong đời, mà còn là người có hại nhất cho xã hội. Hết thảy những kẻ thất bại đều thuộc hạng người đó.

    Đời sống của hoàng đế Nã Phá Luân, chứng minh lời nói đó. Khi ly dị hoàng hậu Joséphine, vì cớ bà này không thể cho ông người kế tự, ông than thở cùng bà trước khi chia tay: "Sự phú quý vinh hoa của tôi, trần gian chưa ai từng thấy. Vậy mà cho đến giờ này đây, bà là người độc nhất trên đời, tôi có thể tin cậy được".

    Nã Phá Luân thì tin như vậy. Nhưng ai đã từng đọc sử đều buồn mà nhận thấy rằng lòng tin đó quá đáng.

    Ông giám đốc tờ báo Collier's nói "Muốn cho độc giả thích những truyện ngắn của bạn thì bạn phải yêu độc giả đã, phải chú ý tới họ". Chân lý đó đúng khi bạn viết tiểu thuyết cho độc giả coi. Nó còn ba lần đúng hơn nữa, khi bạn trực tiếp nói chuyện với người khác.

    Howard Thurston, ông vua ảo thuật, trong bốn mươi năm trời, đem tài bịt mắt thiên hạ làm cho cả thế giới ngạc nhiên và thán phục, kiếm được gần hai triệu đồng, một hôm thú với tôi rằng hồi ông nhỏ, đã phải xa cha mẹ đi lang thang, ăn xin hết nhà này tới nhà khác, và nhờ ngó những quảng cáo hai bên đường lửa mà biết đọc. Về nghề ảo thuật, thiếu gì người biết nhiều hơn ông, nhưng ông có hai đức tính mà người khác không có:

    Thứ nhất: thấu rõ tâm lý loài người và khi lên sân khấu, ông có sức quyến rủ và gây hứng. Mỗi cử chỉ của ông, mỗi lần ông chuyển giọng nói, mỗi nét câu mày là cả một công trình luyện tập. Mà hết thảy công trình đó chỉ có mục đích làm cho khán giả say mê và thấy thì giờ chóng qua.

    Thứ nhì: ông thành thật chú ý tới khán giả. Các nhà ảo thuật khác ở trên sân khấu ngó xuống trừng trừng như có vẻ nói: "Tụi này toàn đồ mắt thịt. ta sẽ bịp chúng dễ như chơi". Phương pháp của Thurston khác hẳn. Mỗi lần sắp ra sân khấu, ông tự nói: "Ta mang ơn những người tới đây coi ta diễn trò. Nhờ họ, ta sống được phong lưu. Vậy ta phải hết sức trổ tài cho họ vừa lòng". Rồi ông vừa nhủ thầm: "Tôi yêu khán giả của tôi. Tôi yêu khán giả của tôi", vừa tiến ra ngoài sân khấu. Bạn cho là lố bịch, là vô lý ư? Cái đó là quyền của bạn. Nhưng chính đó là nguyên nhân sự thành công của một trong những nhà ảo thuật danh tiếng nhất từ xưa tới nay.

    Tổng thống Théodore Roosevelt thu được nhân tâm một cách lạ lùng cũng nhờ bí quyết đó. Cho đến người ở của ông cũng sùng bái ông nữa. Người da đen làm bồi phòng cho ông, viết một cuốn sách nói về đời tư của ông, trong đó có câu chuyện lý thú này:

    Một hôm, nhà tôi hỏi tổng thống về loài chim đa đa mà nó chưa từng thấy bao giờ. Ngài tả tỉ mỉ loài chim đó cho nó nghe. Một lát sau, có người kêu điện thoại, nhà tôi chạy lại trả lời. Thì ra ngài tổng thống kêu nó, cho nó hay rằng hiện có một con chim đa đa đậu trong sân cỏ, và nếu nó muốn coi thì ngó ra sẽ thấy. Chỉ những việc như vậy cũng đủ tả tánh tình của ngài và những việc đó, ngài rất thường làm.

    "Mỗi khi ngài đi dạo gần tới nhà riêng của chúng tôi, dù chúng tôi có đứng khuất thì cũng kêu chúng tôi và chào lớn tiếng".

    Một ông chủ như vậy, thì người làm công nào mà không yêu kính? Bất cứ ai mà không yêu kính?

    Một bữa, ông tới Bạch Ốc, phải khi tổng thống Talf và phu nhơn đi vắng, ông kêu lên từng người đầy tớ cũ và nồng nàn hỏi thăm họ, cả đến những chị phụ bếp cũng được hân hạnh đó. Khi gặp chị phụ bếp Alice, ông hỏi chị còn làm bánh mì bằng bột bắp không. Chị ta đáp còn làm, nhưng chỉ có đầy tớ ăn, còn trên bàn ông chủ không ai dùng tới.

    Ông cười lớn: "Tại các ngài không sành ăn. Khi nào gặp ngài tổng thống, tôi sẽ chê ngài chỗ đó".

    Chị đó dâng ông một miếng bánh mì bột bắp. Ông vừa đi về phòng giấy vừa ăn, gặp người làm vườn nào, ông cũng kêu tên mà chào như hồi ông Còn làm tổng thống. Một chú làm công già rưng rưng nước mắt nói rằng, ngày hôm đó là ngày sung sướng nhất của chú từ hai năm nay. Và đổi ngày đó lấy tấm giấy một trăm, chú cũng không đổi.

    Ông Charles W. Eliot, giám đốc đại học trường Harvard trong gần nửa thế kỷ, cũng nhờ đức độ tha thiết lo toan giúp người mà được kính mến nhất trong các trường đại họ từ cổ chí kim.

    Một hôm, một sinh viên nghèo lại xin quỹ tương trợ sinh viên do ông quản lý cho mượn năm mươi năm mỹ kim để lấy tiền ăn học, ông cho mượn. Khi người đó cám ơn rồi, sắp quay ra, ông gọi lại: "Trò hãy ngồi chơi một lát. Trò nấu nướng lấy ở trong phòng phải không? Sự đó chẳng hại gì cho sức khỏe của trò, nếu trò biết lựa món ăn vừa bổ, vừa rẻ, và ăn được đủ no. Hồi tôi còn đi học, tôi cũng như trò. Trò biết món thịt dê đông không? Bổ nhất và rẻ nhất. Hồi xưa, tôi làm món đó như vầy..". Rồi ông giảng một hơn về cách lựa thịt, nấu, ép, ăn... Sinh viên đó lấy làm ngạc nhiên lắm và cảm động vô cùng.

    Tôi nhờ kinh nghiệm mà thấy rằng có thể làm cho các nhân vật quan trọng có danh vọng nhất châu Mỹ để ý tới ta và chịu hợp tác với ta bằng cách ta chú ý tới họ, kính mến họ và thật lòng ngưỡng mộ họ.

    Đây là một thí dụ:

    Cách đây đã lâu, hồi tôi còn dạy khoa "Viết tiểu thuyết" tại Học đường Nghệ thuật và Khoa học ở tỉnh Brooklyn, tôi ước ao sao được nhiều danh sĩ đáng ngưỡng mộ tới lớp tôi, diễn thuyết cho học trò tôi nghe về những kinh nghiệm họ đã thâu thái được.

    Tôi và học trò tôi liền chung nhau viết cho mỗi vị một bức thư. Trong thư nói rằng chúng tôi rất thán phục tác phẩm của họ và hết lòng ước ao được học hỏi ý kiến của họ và những bí quyết đã giúp họ thành công rực rỡ.

    Mỗi bức thư đó có gần một trăm năm mươi người học trò của tôi ký tên. Chúng tôi lại nói thêm rằng vì chúng tôi dư hiểu họ rất ít thời giờ rảnh rang để soạn một bài diễn văn, nên chúng tôi mạn phép đính theo một bản phỏng vấn về đời tư và phương pháp làm việc của họ.

    Cách cư xử nhã nhặn đó làm cho họ vừa lòng lắm. Ai mà chẳng phải vừa lòng?

    Cho nên không có một danh nhân nào từ chối lời thầy trò chúng tôi yêu cầu: họ đích thân tới Brooklyn và vui vẻ diễn thuyết cho chúng tôi nghe.

    Hết thảy chúng ta, từ người đồ tể, người bán bánh đến vua chúa trên ngai vàng, hết thảy đều quý mến những người... ngưỡng mộ chúng ta. Như hoàng đế nước Đức Guillaume đệ nhị chẳng hạn, sau đại chiến trước, cả thế giới ghét cay ghét đắng ông. Chính dân tộc của ông cũng chống lại ông nữa. Ông phải trốn qua Hòa Lan để khỏi mất đầu. Cả triệu người đòi thiêu sống hoặc phân thây ông. vậy mà trong đám lửa giận bùng bùng của cả nhân loại đó, lại có một đứa nhỏ viết cho ông một bức thư giản dị và chân thành, chứa chang tình quý mến và ngưỡng mộ. Đứa nhỏ nói ai nghĩ sao mặc ai, riêng với nó, hoàng đế Guillaume bao giờ cũng là chúa nó, hoàng đế của nó. hoàng đế cảm động vì bức thư đó lắm nên mời nó qua Hòa Lan thăm ông. Đứa nhỏ đi, có má nó theo, kết cục là một đám cưới... Đứa nhỏ đó bẩm tính đã biết làm đẹp lòng người, không cần phải đọc sách này.

    Muốn được người khác yêu ta, ta phải vì họ, đừng quản công, đừng sợ mất thì giờ, phải suy nghĩ, gắng sức mà quên mình nữa. Quốc vương Edouard III trước khi qua thăm Nam Mỹ, học tiếng Y Pha Nho trong ba tháng để có thể diễn thuyết bằng tiếng bản xứ được. Nhờ vậy mà ông được dân Nam Mỹ kính yêu vô cùng.

    Đã từ lâu rồi, tôi rán biết và ghi kỹ lưỡng sinh nhật của bạn bè trong cuốn sổ này. Làm sao mà biết được những ngày đó? Dễ dàng lắm. Tuy tôi chẳng tin chút chi về khoa chiêm tinh hết, nhưng tôi cũng cứ hỏi bạn tôi có tin rằng ngày sinh tháng đẻ có ảnh hưởng đến tính tình vẫn mạng ta không. Rồi tôi hỏi ngày sinh tháng đẻ của ông ta. Tôi nhẩm ngày tháng đó cho nhớ, rồi hễ ông quay lưng đi là tôi chép vội lên một miếng giấy nào đó, để sau sẽ biên vào sổ tay. Tới đầu năm tôi đám dấu những ngày tháng đó vô một cuốn lịch để xé tới ngày đó, tự nhiên nhớ đến, mà gới thư hoặc "dây thép" chúc mừng bạn tôi. Các bạn tôi ngạc nhiên làm sao! Và tôi thành công không ngờ! Có khi chỉ một mình tôi nhớ mừng sinh nhật của các bạn tôi thôi.

    Bạn muốn gây thiện cảm ư? Thì cứ niềm nở và sốt sắng đón tiếp mọi người. Trước máy điện thoại cũng vậy. Khi trả lời "Allo!", bạn cố lấy cái giọng vui vẻ, êm ái để người nghe thấy rằng bạn thích được nói chuyện với người đó lắm.

    Công ty điện thoại Nữu Ước dạy các cô phân phối điện thoại nói câu này: "Dạ xin ngài nhắc giùm em số bao nhiêu ạ" với một giọng êm dịu ngọt ngào như chào lời hỏi. Ngày mai, khi kêu điện thoại, xin bạn nghĩ đến điều đó.

    Thuật đó trong những giao thiệp về thương mại có kết quả không? Tôi có thể kể cả chục thí dụ ra đây, nhưng thiếu chỗ chỉ xin kể ra hai thôi.

    Ông C.R.Walters làm việc tại một ngân hàng, được lệnh trên phái điều tra kín, xem một hãng kia có đáng được tín nhiệm không. Ông bèn lại thăm ông giám đốc một công ty kỹ nghệ lớn để xin ông giúp cho ít tài liệu về hãng nọ. Ông kia trả lời một cách mơ hồ, rụt rè, như người không muốn bị liên lụy. Cuộc gặp gỡ đó vô ích.

    Ông Walters thất vọng không biết làm sao. Bỗng ông sực nhớ khi sắp vô phòng giấy nhà kỹ nghệ đó, có nghe một cô thư ký nói với ôn này rằng hôm nay không có con cò nào mới cho ông ta hết. Thì ra kỹ nghệ gia đó sưu tập "cò" cho con trai ông mười hai tuổi.

    Ông Walters lại nhớ sở ông nhận được nhiều thư ngoại quốc gởi lại. Thế là ông đã kiếm cách thoát được cơn bí rồi. Chiều hôm sau, ông trở lại thăm nhà kỹ nghệ, viết trên miếng giấy nhỏ rằng có "cò" lạ đem lại biếu con ông, rồi biểu người ra đưa vào... Lần này được tiếp đón niềm nở làm sao! Người kỹ nghệ siết tay ông như một người ra ứng cử nghị viện siết tay một cử tri vậy! Nhà kỹ nghệ tươi như hoa, vừa lật đi lật lại những con "cò", vừa nhắc đi nhắc lại: "Thằng George của tôi sẽ mê con cò này! Còn con kia nữa, thật là vô giá".

    Ông Walters kể lại rằng: "Trong nửa giờ đồng hồ, chúng tôi chỉ nói chuyện cò, và nhìn tấm hình cậu George. Rồi không đợi tôi hỏi, nhà kỹ nghệ quan trọng đó bỏ một giờ đồng hồ nữa cho tôi biết hết thảy những tài liệu mà tôi muốn có. Không có điều gì ông biết mà không cho tôi hay, rồi lại kêu những người giúp việc mà hỏi thêm nữa, lại gọi điện thoại trước mặt tôi để hỏi thăm những nơi ông quen biết. Ông đưa tôi một chồng báo cáo, thư từ, có đủ những con số. Một sự thành công chưa từng thấy".

    Và đây là một chứng cớ khác.

    Ông Knaphle mời một xí nghiệp lớn có rất nhiều chi nhánh mua than cho hãng mà ông thay mặt. Mời hàng mấy năm mà không đạt kết quả chi hết. Xí nghiệp đó cứ tiếp tục mua than của một hãng tại ngoại ô châu thành, mà than đó lại do cam nhông chở ngang qua hãng ông Knaphle.

    Ông này giận lắm và trong một buổi diễn thuyết trong lớp tôi, ông đã tỏ ra sự uất hận của ông bằng cách nặng lời chỉ trích những xí nghiệp liên hiệp, tố cáo rằng đó là cái ung thư của nền kinh tế quốc gia.

    Tôi khuyến dụ ông ấy thử dùng một chiến thuật khác hẳn. Chúng tôi tính tổ chức một cuộc bàn cãi đầu đề như vầy: "Những xí nghiệp liên hiệp có hại cho nền kinh tế một nước không?"

    Rồi tôi khuyên ông Knaphle, trong khi vàn cãi, đừng chỉ trích mà trái lại bênh vực cho sự liên hiệp đó. Ông bằng lòng đi lại thăm ngay người chỉ huy xí nghiệp mà ông ghét cay ghét đắng đó và nói: "Thưa ông, tôi lại không phải để bán than cho ông đâu... Tôi lại đây để xin ông vài lời chỉ bảo". Rồi giảng giải đầu đề cuộc bàn cãi cho ông kia nghe và kết luận: "Thưa ông, chỉ có ông là giúp tôi được, ngoài ông ra, khó có người chỉ được cho tôi những điều tôi cần biết. Tôi quyết thắng trong cuộc tranh luận đó và được ông giúp, tôi sẽ mang ơn ông lắm..".

    Kết quả như vầy, theo lời ông Knaphle: "Tôi chỉ xin ông ấy tiếp tôi một phút thôi, mà ông ấy cũng chỉ bằng lòng tiếp tôi một phút thôi. Vậy mà sau khi nghe tôi nói rồi, ông mời tôi ngồi à nói chuyện với tôi đúng một giờ bốn mươi bảy phút. Ông cho gọi một người chỉ huy khác đã viết một cuốn sách về các xí nghiệp liên hiệp tới giúp ý cho tôi.

    Ông viết thư cho tổng hội các xí nghiệp đó để xin cho tôi một bản sao tờ biên bản một cuộc bàn cãi về vấn đề liên hiệp các xí nghiệp. Rồi thao thao bất tuyệt, mắt ông long lanh, ông hăng hái ca tụng những ích lợi vô cùng của chế độ đó đối với nhân loại: ông nói ông lấy làm vinh hạnh đã giúp đỡ cho cả trăm công ty nghèo nhờ chính sách liên hiệp mà trở nên thịnh vượng. Tôi phải thú nhận rằng những lý luận xác đáng của ông đã mở mắt cho tôi nhận chân được những sự thật mà trước kia tôi không hề suy nghĩ tới. Ông đã phá tan các thành kiến của tôi. Khi tôi từ biệt ông, ông tiễn tôi ra tới cửa, quàng vai tôi, chúc tôi thành công, mời tôi lại thăm ông cho ông biết kết quả cuộc tranh biện và sau cùng ông nói: "Qua xuân, mời ông trở lại thăm tôi. Tôi muốn mua than tại hãng ông..".

    Kết quả đó thật là một kỳ tích đối với tôi. Tôi không mời mà được người mua. chỉ trong hai giờ đồng hồ, tôi chú ý, quan tâm tới công việc của ông mà được kết quả nhiều hơn là luôn hai năm gắng sức chỉ tìm cách làm cho ông ấy để ý đến tôi và than của tôi.

    Chân lý đó không mới mẻ gì. Từ ngàn xưa, một trăm năm trước Thiên Chúa giáng sinh, một thi sĩ La Mã. Pubhlius Syrus đã nghiệm rằng: "Chúng ta chỉ chú trọng tới người nào chú trọng tới ta".

    Vậy muốn gây được tình thân của người khác, các bạn phải theo quy tắc thứ nhất sau nầy:

    Thành thật chú trọng tới mọi người.
  6. Offline

    LucifeR New Member

    Số bài viết:
    815
    Đã được thích:
    87
    Phần Sáu


    Một Cách Dễ Dàng
    Để Gây Mỹ Cảm Lúc Sơ Kiến


    Có nhiều bà muốn gây mỹ cảm, tiêu cả một gia tài để đắp vào thân những nhung cùng vóc, đeo vào mình những vàng cùng ngọc, mà hỡi ơi, quên hẳn cái bộ mặt của mình đi, bắt nó mang những nét chua ngoa và ích kỷ. Họ quên rằng đối với đàn ông, nét mặt nụ cười quan trọng hơn tơ lụa khoác lên mình. Nhân tiện, xin nhắc bạn, ví như bà nhà đòi may một cái áo nhung, thì xin chớ trả lời bà bằng câu đó nhé!.

    Charles Schwab mà trên kia tôi đã kể chuyện, nói rằng nụ cười của ông ta đáng giá triệu đồng. Số đó còn dưới sự thực vì tất cả sự thành công lạ lùng của ông đều nhờ tâm tính ông. mà chính nụ cười quyến rủ của ông lại là khả năng khả ái nhất.

    Một buổi tối, tôi được tiếp Maurice Chevalier, danh ca của thế giới. Thú thực là tôi thất vọng. Tôi không ngờ ông ủ rũ, lầm lỳ như vậy, khác hẳn với trí tôi tưởng tượng. Nhưng bỗng nhiên, ông ta mỉm cười. Rõ ràng đó là một tia nắng xuyên qua mây mù... Không có nụ cười đó, Maurice Chevalier có lẽ còn đang đóng bàn ghế ở Paris như ông thân và anh em ông.

    Mỉm cười với ai, tức như nói với người đó: "Tôi mến ông... được gặp ông, tôi vui vẻ lắm... Tôi sung sướng lắm..".

    Lẽ cố nhiên, nụ cười đó phải chân thật, tự đáy lòng phát ra mới quyến rủ, ủy lạo được người, còn thứ nụ cười nhích mép nở ngoài môi, như do một Bộ máy phát ra, không lừa được ai hết, chỉ làm cho người ta ghét thôi. Ông chỉ huy nhân viên một cửa hàng lớn ở Nữu Ước nói rằng ông ưa mướn một cô bán hàng học lực sơ đẳng mà nụ cười có duyên hơn là một cô cử nhân văn chương mà mặt lạnh như bằng.

    Tại sao ta thương loài chó? Tại chúng tung tăng, vui mừng đón rước ta, làm cho ta vui lòng khi thấy chúng.

    Nếu không thấy hứng thú khi làm một việc thí không thể làm nên việc đó.

    Đã từng có người bắt tay vào việc làm với một lòng hoan hỉ vô biên và vì vậy mà thành công. Nhưng lâu dần quen nghề, lòng hoan hỉ tiêu tan. Người đó chỉ còn làm đủ bổn phận thôi. Rồi tới chán nản. Rồi tới thất bại.

    Trong xã giao cũng vậy. Phải hoan hỉ giao du với người thì mới mong hứng thú giao du với mình.

    Tôi đã khuyên cả ngàn thương gia như vầy: "Các ông luôn trong một tuần lễ, lúc nào cũng mỉm cười, gặp ai cũng mỉm cười... rồi các ông lại đây cho tôi Biết kết quả ra sao".

    Thì đây kết quả như vầy:

    Ông Steinhardt viết thư cho tôi kể:

    "Tôi có vợ mười tám năm rồi, và trong thời gian đó ít khi tôi mỉm cười với nhà tôi. Từ sáng dậy tới khi đi làm, tôi ít khi nói với nhà tôi quá 12 tiếng. Trong châu thành Nữu Ước này, tôi vào hạng người càu nhàu khó chịu nhất.

    "Nghe lời khuyên, tôi thí nghiệm "tuần lễ mỉm cười" và ngay sáng hôm sau, khi rửa mặt, ngó trong gương, tôi tự nhủ phải bỏ cái bộ mặt đưa ma đó đi và quyết chí mỉm cười.

    Khi ngồi bàn ăn sáng, tôi hớn hở chào nhà tôi. Nhà tôi ngạc nhiên vô cùng. Tôi giữ luôn như vậy trong hai tháng nay và tìm thấy được nhiều hạnh phúc trong gia đình, hơn cả một năm vừa qua.

    Bây giờ, gặp người bồi coi thang máy, người giữ cửa, người bàn giấy xe, gặp ai tôi cũng chào hoặc mỉm cười. Tôi không chỉ trích ai, chê ai hết, tôi khuyến khích và khen ngợi. Tôi không nói chuyện tôi cho người khác nghe nữa và rán hiểu nỗi lòng của người khác. Tôi biến thành một người mới, sung sướng, có lòng từ thiện và được mọi người thương. Hỏi còn có phần thưởng nào quý hơn nưa không?" .

    Xin bạn nhớ rằng người viết thư đó là trọng mãi mua bán chứng khoán ở thị trường chứng khoán Nữu Ước, một nghề khó tới nỗi một trăm người thì có chín mươi chín người thất bại.

    Franklin Bettger, một biện sự khéo léo nhất trong nghề bảo hiểm nói với tôi: "Từ lâu, tôi đã hiểu rằng với nụ cười, đi đâu ta cũng được tiếp đón niềm nở. Cho nên trước khi vô nhà một thân chủ nào, tôi dừng lại một chút, nghĩ tới tất cả những sung sướng mà trời đã cho tôi. Ý nghĩ đó tự nhiên làm nở nụ cười trên môi tôi... và tôi gõ cửa, tươi tỉnh như đóa hoa. Một phần lớn, nhờ có thuật đó mà tôi thành công".

    Là vì, giáo sư William James nói: "Hành động cơ hồ theo sau tư tưởng, nhưng sự thực thì cả hai đồng thời phát động. Dùng nghị lực để điều khiển hành động tức là điều khiển tình cảm một cách gián tiếp..".

    Vậy khi mất cái vui rồi, muốn kiếm nó lại thì không cách nào bằng hành động như nó đã trở về với ta... Hạnh phúc của ta không do ngoại vật đem tới mà tự tâm ta phát khởi. Hai người cùng ở một chỗ, cùng làm một nghề, gia sản ngang nhau, địa vị trong xã hội bằng nhau mà một người sướng, một người khổ, là vì đâu? Vì tâm trạng họ khác nhau. Trong số cu li Trung Hoa, vất vả dưới ánh nắng thiêu người, đổi chén mồ hôi lấy 7 xu mỗi ngày, tôi đã từng thấy nhiều nét mặt vui tươi, như trên mặt các phú ông ở Nữu Ước.

    Shakespear một thi hào nước Anh nói: "Không có chi tốt mà cũng chẳng có xấu; xấu tốt đều do tưởng tượng mà ra cả".

    Abraham Lincoln nghiệm rằng phần nhiều người ta biết an phận mà được sung sướng. Ông nói có lý và tôi đã có dịp nhận rõ sự thật đó:

    Một hôm tôi gặp ở Nữu Ước ba mươi tàn tật, chống gậy hay nạng, lết bết leo lên những bực của một nhà ga lớn. Có đứa phải cõng mới lên nổi. Tôi ngạc nhiên nghe chúng vui cười giòn giã. Một người coi sóc chúng giảng cho tôi: "Khi một em đó hiểu rằng mình sẽ tàn tật suốt đời, thì mới đầu như rụng rời, rồi bình tĩnh lại, cam lòng với định mạng, rồi cảm thấy sung sướng hơn những đứa trẻ mạnh".

    Tôi kính phục những em nhỏ đó. Các em đã cho tôi một bài học mà tôi sẽ ghi nhớ suốt đời.

    Xin các bạn đọc, và nhớ thi hành, vì đọc suông không có kết qua, những lời khuyên chí lý sau này của giáo sư Albert Hubbard:

    Ở nhà ra bạn ngửng đầu lên, đưa cằm ra, hít đầy phổi không khí và ánh sáng mặt trời, mỉm cười với mọi người và thân ái siết tay người quen Biết. Đừng mất thì giờ nghĩ tới kẻ thù của bạn. Rán vạch rõ trong đầu mục đích bạn muốn đạt và thẳng tiến tới lý tưởng đó. Một khi Bạn đã định kỹ những hành vi đẹp đẽ, cao cả bạn muốn làm thì tự nhiên ngày tháng sẽ đưa cơ hội thuận tiện tới lần lần cho bạn thực hiện được ý bạn, cũng như cặn bụi trong nước biển lần lần tụ lại mà trở nên san hô".

    Bạn hãy in sâu vào óc hình dung nhân vật có tài năng trung tín và hữu ích mà bạn muốn trở nên rồi mỗi giờ trôi qua, sức tưởng tượng sẽ lần lần thay đổi bạn cho tới khi thành hẳn nhân vật đó.

    Mãnh lực của tư tưởng tối cao. Bạn hãy nuôi lấy một tâm trạng quân tử, can đảm, trung chính và vui vẻ. Vì tư tưởng thì hành vi tất đẹp. Đã ham muốn rất phải thành công và lời cầu nguyện nào chân thành cũng được chuẩn hứa. Lý tưởng ủ ấp trong lòng sẽ cấu tạo nên những hành vi hợp với lý tưởng. Ngửng đầu lên, bạn, vì nếu trong mỗi cái kén có một con bướm chưa nở, thì trong tâm mỗi người cũng có một điểm phật, chỉ đợi dịp phát huy.

    Người Trung Hoa thật khôn ngoan. Câu phương ngôn này của họ phải được dán trong nón chúng ta đội: "Người nào không biết mỉm cười, đừng nên mở tiệm", và khi bàn tới điều kiện mở tiệm, ông Fletcher đã đưa ra những tư tưởng này:

    Giá trị của nụ cười:

    Một nụ cười chẳng mất vốn, mà lợi thật nhiều.

    Một nụ cười không làm nghèo người phát nó nhưng làm giàu người nhận nó.

    Một người cười chỉ nở trong khoảnh khắc, nhưng có khi làm cho ta nhớ suốt đời.

    Kẻ phú quý tới bực nào mà không có nó thì cũng vẫn còn nghèo, còn kẻ nghèo hèn tới đâu mà saÜn có nó thì vẫn còn cái vốn vô tận.

    Nụ cười gây hạnh phúc trong gia đình, nó là nguồn gốc những hảo ý trong thương nghiệp và là dấu hiệu của tình bè bạn.

    Nó bồi dưỡng kẻ mệt nhọc, nó là hình ảnh bình minh cho kẻ ngã lòng, là nắng xuân cho kẻ buồn rầu và là thuốc mầu nhiệm nhất của tạo hóa để chữa lo âu.

    Nụ cười không thể mua được, không thể xin như khất thực được, không mượn được, mà cũng không thể ăn cắp được. Vì ta khư khư giữ nó thì nó chẳng có giá trị gì, nhưng nếu ta dùng nó một cách phung phí thì giá trị nó vô cùng.

    Cho nên khi bạn gặp một người mệt nhọc, không còn sức tươi cười với Bạn được, thì bạn hãy mỉm cười với người đó đi. Vì người nào không còn lấy nụ cười để tặng kẻ khác, người đó cần nhận một nụ cười hơn ai hết...

    Vậy nếu bạn muốn được thương mến, xin nhớ quy tắc thứ hai này:

    Giữ nụ cười trên môi.
  7. Offline

    LucifeR New Member

    Số bài viết:
    815
    Đã được thích:
    87
    Phần Bảy

    Không Theo Quy Tắc Sau Này
    Tức Là Tự Rước Lấy Thất Bại


    Năm 1898 Joe Farley chết một cách bất ngờ, để lại vợ góa và con côi với trăm đồng bạc vốn.

    Đứa lớn nhất tên Jim mười tuổi, phải giúp việc trong một lò gạch, đẩy xe cát, đổ cát vào khuôn, phơi gạch. Không có thì giờ học, nhưng có thiên tài trời cho riêng dân Ái Nhĩ Lan, là bẩm sinh đã biết nghệ thuật làm cho người khác thương mình. Lớn lên ông làm chính trị, tập nhớ tên họ và vẽ mặt của người khác, mà lần lần trí nhớ đó trở nên kỳ dị.

    Không hề tòng học một trường đại học nào hết, mà chưa đầy bốn mươi sáu tuổi, có tới bốn trường đại học cấp bằng danh dự cho ông, lại làm hội trưởng Ủy Ban Dân Chủ Quốc Gia, và tổng giám đốc sở bưu điện.

    Một lần được ông tiếp, tôi hỏi ông bí quyết của sự thành công đó. Ông đáp: "Nai lưng ra mà làm việc". Tôi cãi: "Đừng nói chơi mà!".

    Ông hỏi lại tôi: "Vậy theo ông, bí quyết đó ở đâu?" . Tôi đáp: "Người ta nói rằng ông có thể gọi tên được mười ngàn người".

    Ông cãi:

    - Xin lỗi ông, ông lầm. Tôi có thể gọi tên năm chục ngàn người.

    Nhờ trí nhớ kinh dị đó mà Jim Farley đi cổ động đắc lực cho ông Franklin D. Roosevelt được quốc dân bầu làm tổng thống.

    Phương pháp ông giản dị lắm. Mỗi lần ông mới làm quen với ai, ông hỏi tên họ người đó và cách viết ra sao. Ông tìm cách biết rõ về gia đình, nghể nghiệp và màu sắc chính trị người đó, ghi nhớ lấy rồi lần sau gặp lại, dù là cách một năm đi nữa ông cũng có thể vỗ vai người đó mà hỏi thăm về vợ, con, cả đến những cây trồng trong vườn người đó nữa!

    Vậy thì tới đâu ông cũng có bạn thân, có gì là lạ.

    Mấy tháng trước cuộc bầu cử tổng thống Roosevelt, Jim Farley viết một ngày cả trăm bức thư cho dân miền Bắc và miền Tây. Rồi ông đi trong mười chín ngày, khắp hai chục xứ, trên ba chục ngàn cây số. Đi xe lửa, xe ngựa, xe hơi, tàu thủy. Tới một tỉnh, ông đãi các cư tri một bữa trưa hay bữa tối, đem hết tâm can mà bày tỏ thiệt hơn với họ, đoạn chạy biến qua tỉnh khác.

    Trở về nhà, ông viết ngay thư cho một người ông quen nhất trong đám cử tri ông mới đãi tiệc và xin cho biết tên những người đã có mặt hôm ông cổ động.

    Thành thử ông có một cuốn sổ ghi hàng ngàn tên những người ấy. Rồi mỗi cử tri đó đều ngạc nhiên nhận được của ông một bức thư đề "Bạn Bill thân mến". "Bạn Joe thân mến"... và ký tên "Jim".

    Jim Farley hiểu rằng hạng trung nhân đều thấy tên mình êm ái hơn hết thảy những tên khác. Nhớ được tên đó, đọc nó được một cách dễ dàng, tức là khen người đó một cách kín đáo và khôn khéo. Còn nếu quên hoặc viết sai tên đó tức là làm cho người ta khó chịu. Riêng tôi, tôi cho rằng người ta vô lễ với tôi, nếu trên bao thư gởi cho tôi người ta đã biên sai tên tôi.

    Những kỹ thuật gia giúp việc ông Adrew Carnegie biết rõ dã kim thuật hơn ông nhiều. Vậy tại sao ông vua thép đó thành công? Là vì ông biết dẫn đạo người. Ngay từ hồi ít tuổi, ông đã có tài tổ chức, thấu tâm lý và thuật chỉ huy. Mới mười tuổi ông đã thấy rằng ai cũng cho tên họ của mình là vô cùng quan trọng. Một hôm, ông bắt được một con thỏ cái mới sanh được một bầy thỏ con m à không có chi nuôi chúng hết. Ông bèn dụ tụi bạn nhỏ như vầy: "Nếu chúng bây chịu kiếm lá cây nuôi bầy thỏ thì ta sẽ lấy tên mỗi đứa đặt tên cho một con thỏ con". Kết quả thần diệu. Và ông không bao giờ quên chuyện đó hết.

    Nhiều năm sau, ông lại dùng thuật đó. Ông lấy tên hội trưởng một công ty xe lửa đã đặt tên cho một xưởng lớn của ông và nhờ vậy mà công ty xe lửa đó thành khách hàng mua đường rầy của ông!

    Khi George Pullman và Carnegie tranh nhau độc quyền chế tạo những toa xe lửa có giường ngủ cho công ty hỏa xa nọ, hai bên chỉ trích lẫn nhau, đua nhau hạ giá, thành thử không lời. Nhưng Carnegie nhớ bài học con thỏ. Một hôm gặp Pullman ông chào: "Chào ông Pullman, ông có tin rằng hai đứa mình đều điên hết không?" .

    Ông kia hỏi lại: Ông muốn nói chi?

    Carnegie bèn đề xướng với Pullman hợp hai công ty lại làm một, dùng những lợi chung của sự liên kết đó, Pullman chú ý nghe, nhưng chưa tin hẳn. Sau cùng, ông hỏi: "Công ty mới đó sẽ đặt tên chi?" . Carnegie tức khắc trả lời: "Thì đặt là công ty Pullman tất nhiên rồi".

    Hiệu quả tức thì. nét mặt Pullman tươi hẳn lên, rồi ông mời: "Ông vô phòng tôi. Chúng ta sẽ bàn thêm..".

    Cuộc thương lượng đó đưa tới một khế ước nó thay đổi cục diện kỹ nghệ thiết lộ đường sắt ở Mỹ.

    Cái tài nhớ được và kính trọng tên bạn và tên những người cộâng sự của ông, là một trong những bí quyết đã làm cho ông nổi danh, ông tự phụ rằng nhớ được tên họ một số đông thợ của ông, và khoe rằng ông còn đích thân chỉ huy xí nghiệp của ông ngày nào, thì không có những vụ làm Reo khuấy rối sự yên ổn cần mẫn trong các xưởng ông ngày đó.

    Còn ông Paderewsky, một nhạc sĩ dương cầm nổi danh, rất được lòng người bếp da đen hầu ông trong toa xe lửa riêng của ông. Mỗi lần ông đi biểu diễn tài nghệ về, người bếp đó luôn luôn đích thân dâng cho ông một món ăn đêm mà y nấu riêng để ông dùng. Tại sao y quý ông như vậy? Tại ông theo lễ phép châu Âu, với giọng trịnh trọng gọi người đó bằng: "Ông Copper" chớ không kêu xách mé theo kiểu Mỹ. Và "ông Copper" thích được gọi như vậy lắm.

    Loài người cho tên mình là vinh dự lắm cho nên tìm đủ cách để truyền nó lại đời sau.

    Như ông Barum là người keo bẩn có tiếng, chỉ vì không con nối dõi, mà dám bỏ ra hai muôn rưỡi mỹ kim cho thằng cháu ngoại để y chịu theo họ ông.

    Hai trăm năm trước, những người giàu có thường biếu tiền cho các văn sĩ để được thấy tên mình trên chỗ đề tặng của tác giả.

    Các thư viện, viện bảo tàng sở dĩ sưu tập được nhiều sách báo, đồ quý là nhờ các phú gia biếu đồ hoặc quyên tiền để lưu danh lại sau này. Nhà thờ, đền chùa cũng vậy: những người bỏ những số tiền lớn ra đúc tượng, tô chuông là những ai?

    Sở dĩ chúng ta quên tên người, phần nhiều là vì chúng ta không chịu mất công, mất thì giờ chép lại, lặp lại, cho nó in vào trong đầu óc chúng ta. Chúng ta tự bào chữa rằng như vậy quá lâu, mà công việc ta bề bộn quá.

    Nhưng chắc không có ai bận việc bằng tổng thống Franklin D. Roosevelt. Vậy mà ông có cách nhớ được cả những người thợ máy ông đã gặp.

    Hãng Chrysler đóng một chiếc xe hơi riêng cho tổng thống F. D. Roosevelt, Rồi cho kỹ sư W. F. Chamberlain với một người thợ máy lại Bạch Ốc giao xe cho tổng thống.

    Ông Chamberlain tới, được tổng thống tiếp đãi niềm nở, gọi tên và chào hỏi, tỏ rằng được ông Chamberlain tới chỉ những bộ phận xe cho ông, ông hoan hỉ vô cùng. Ông ngắm nghía từng bộ phận nhỏ một, từ nệm ngồi cho tới cái khóa cửa, tới thùng xe, nhất là những chi tiết nào do ông Chamberlain sáng tạo cho tiện, thì ông cũng muốn ghi nhớ và chỉ cho bà tổng thống, cho nữ bộ trưởng lao động Perkin và cô thư ký riêng của ông... Rồi ông khen không ngớt miệng: "Thật tuyệt, chỉ cần ấn cái nút là xe chạy thẳng, chẳng khó nhọc chút chi hết. đẹp quá... tôi muốn có thì giờ tháo bộ máy ra xem xét nó chạy ra sao".

    Khi ông Chamberlain đã chỉ cho ông rồi, tổng thống quay lại nói: "Ông Chamberlain, hội đồng ngân hàng liên bang đang đợi tôi từ nửa giờ rồi; xin kiếu ông, tôi phải đi mới được..".

    Lúc ông Chamberlain tới, có giới thiệu cho tổng thống người thợ máy đi theo ông. Anh này nhút nhát, đứng xa xa, không nói nửa lời, mà tên của Anh trước sau chỉ nhắt có một lần, vậy mà trước khi từ giã, tổng thống đưa mắt kiếm anh ta, bắt tay anh ta, gọi tên anh ta và cám ơn đã mất công tới. Những lời đó không phải thốt ra từ cái máy đâu, mà trái lại, có một giọng yêu mến thật thà.

    Ít ngày sau, ông Chamberlain nhận được tấm hình với chữ ký của tổng thống gởi biếu và mấy lời cảm ơn một lần nữa. Thật không sao hiểu được ông kiếm đâu đủ thì giờ để làm công việc gây cảm tình đó.

    Franlin D. Roosevelt biết rằng một trong những cách chắc chắn dễ dàng và công hiệu nhất để làm cho một người vui lòng là nhớ tên họ người ấy và tỏ cho họ thấy rằng họ quan trọng. tổng thống Roosevelt làm như vậy, còn phần động chúng ta, ra sao? Chúng ta khi được giới thiệu với một người lạ, nói chuyện với họ một lát, rồi khi từ biệt không nhớ tên người ta để mà chào nữa.

    Một nhà chính trị trước nhất phải nhớ tên cử tri. Như vậy mới có danh và quyền được. Nếu không thì bị thiên hạ bỏ quên. Trong thương mại và xã giao, sự nhớ tên người cũng quan hệ không kém gì trong chính trị.

    Hoàng Đế Nã Phá Luân đệ tam khoe rằng dù việc nước bề bộn mà ông vẫn có thể nhớ tên mỗi người ông đã gặp. Phương pháp ông giản dị lắm. Không ông nghe không rõ một tên nào, ông nói: "Xin lỗi, tôi chưa nghe rõ". Nếu tên hơi lạ, ông bảo người ta đánh vần cho ông nhớ, ông tìm cách nói tên người đó vài ba lần và rán ghi trong trí nhớ hình dáng, vẻ mặt người đó để khi thấy người thì liên tưởng ngay tới tên được.

    Nếu là một nhân vật rất quan trọng, ông viết ngay tên người đó trên một miếng giấy, ngó kỹ nó, tập trung tư tưởng vào nó, cho nó khắc sâu trong óc. Như vậy, ông dùng cả tai lẫn mắt để nhớ. Tất cả những cái đó mất thì giờ lắm. Nhưng Emerson nói: "Muốn lễ phép thì phải chịu nhiều hy sinh nhỏ".

    Vậy, muốn gây thiện cảm, xin bạn để ý tới quy tắc thứ ba này:

    "Phải nhớ rằng tên một người đối với người đó là một âm thanh quan trọng và êm tai hơn hết thảy những âm than
  8. Offline

    LucifeR New Member

    Số bài viết:
    815
    Đã được thích:
    87
    Phần Tám


    Bạn Muốn Thành Một Người
    Nói Chuyện Có Duyên Không? Dễ Lắm


    Mới rồi, sau một tiệc rượu, chủ nhà mời tôi đánh bài. Tôi không biết chơi mà bà ngồi bên cạnh tôi cũng vậy. Chúng tôi nói chuyện với nhau.

    Bà ấy biết rằng hồi trước tôi có việc phải ở bên Âu năm năm.

    Bà nói: "Ông Carnegie, tôi ước ao được ông tả cho nghe những thắng cảnh bên đó".

    Chúng tôi lại ngồi trên chiếc ghế dài, bà ta cho hay rằng mới ở châu Phi về với chồng bà. Tôi nói: "Châu Phi có nhiều cái thú lắm. Tôi vẫn mong mỏi từ lâu được dịp qua đó, mà chỉ đi một lần tới Alger rồi trở về. Tôi ở Alger được đúng hai mươi bốn giờ đồng hồ... Ở bên đó, ông bà có săn thú rừng không? ... Có ư? Ông bà thật may mắn, tôi muốn được như ông bà lắm. Xin bà kể cho tôi nghe".

    Thế là bà ta diễn thuyết trong bốn mươi lăm phút, không nhớ gì tới những cảnh bên Âu nữa. Bà chỉ muốn gặp được người chăm chú nghe để bà có cái vui được dịp nói tới bà và những kỷ niệm của bà.

    Bà đó kỳ dị không? Thưa không! Vô số người cũng như bà. Tất cả chúng ta đều muốn diễn thuyết khi có người chăm chú nghe ta.

    Trong một bữa cơm tối, tại nhà một người bạn làm nghề xuất bản, tôi được gặp một nhà thực vật học có danh. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được gặp một nhà thực vật học và ông ấy nói chuyện nghe muốn mê. Tôi xích lại gần, nghe ông diễn giải về các loài cây cỏ và những chi tiết lạ lùng về một cây rất tầm thường là khoai tây... Ông khuyên tôi nhiều điều rất quý về cách giữ gìn khu vườn nhỏ của tôi.

    Trong bữa tiệc đó, có mười hai ông khách nữa mà tôi như không biết có ai hết: tôi phạm hết thảy những điều thường thức về xã giao để nghe trong mấy giờ đồng hồ nhà thực vật học của tôi.

    Tới nửa đêm tôi xin phép ra về. Sau này có người cho hay rằng, tôi vừa ra khỏi phòng, nhà thông thái đó quay lại với ông chủ nhà, khen tôi thế này, thế khác và cho rằng câu chuyện tôi rất hứng thú và tôi là một người ăn nói có duyên.

    Tôi mà nói chuyện có duyên ư? Nhưng hôm đó tôi có thốt ra nửa lời nào đâu?

    Giả thử tôi có nói, thì câu chuyện đã xoay qua một vấn đề nào khác rồi, vì về khoa thảo mộc học, tôi hoàn toàn không biết chút chi hết. Tôi chỉ mê mẩn nghe thôi. Vì những điều ông giảng giải kích thích tôi nhiều lắm. Ông ấy thấy rõ như vậy và điều đó làm cho ông vui là lẽ tự nhiên. Chăm chú nghe Một người nói, khác gì nhiệt liệt khen ngợi họ. Một thi sĩ bảo "Say mê nghe lời của một người, tức là tôn kính họ, mà rất ít người không cảm động trước sự tôn kính đó".

    Tôi ngỏ ý muốn được tái ngộ ông và thật tình tôi bây giờ rất muốn được gặp ông lần nữa.

    Đó, chỉ vì vậy mà ông khen tôi nói chuyện khéo, sự thật tôi chỉ là một thính giả kiều mẫu và biết cổ vũ ông nói thôi.

    Làm sao cho khách hàng có thiện cảm với ta, vui vẻ nghe ta, tin ta và theo ý ta? Theo giáo sư C. W. Eliot thì không khó chi hết. Trước hết ta phải đặc biệt chăm chú nghe họ. Không có chi làm đẹp lòng họ bằng.

    Điều đó dễ hiểu quá mà! Không cần phải theo học bốn năm tại Harvard để tìm thấy chân lý đó. Vậy mà tôi thấy và các bạn cũng thấy có những nhà buôn không ngần ngại, mướn những cửa hàng xa hoa, chú trọng về sự buôn hàng với các giá hời nhất để có thể bán rẻ mà vẫn lời, cửa hàng họ chưng bày lộng lẫy, họ tiêu hàng trăm đồng vào công cuộc quảng cáo, mà rồi rốt cuộc, mướn những người làm công không biết nghệ thuật "nghe" ngắt lời khách hàng, cãi lại họ, làm mất lòng họ, như vậy có khác gì đuổi họ ra khỏi cửa hàng không?

    Xin các bạn nghe chuyện ông J. C. Wooton, một người học trò của tôi. Ông ấy mua một bộ đồ tại tiệm lớn nọ. Về nhà bận ít bữa ông bực mình vì thấy màu áo thôi ra và làm đen cổ áo sơ mi.

    Ông đem bộ đồ lại tiệm, phàn nàn với người làm công đã bán bộ đồ đó cho ông. Cũng không phải để phàn nàn nữa, mà để giảng giải cho người bán hàng nghe, nhưng người này chưa nghe, đã ngắt ngay lời: "Chúng tôi đã bán cả ngàn bộ đồ thứ đó, mà chưa hề có ai kêu ca chi hết".

    Lời thì như vậy, nhưng giọng còn tệ hơn nữa. Giọng hung hăng như muốn bảo: "Chú nói dối, chú ơi! Tôi đi guốc trong bụng chú rồi!".

    Nghe thấy chúng tôi cãi cọ nhau, một người bán hàng khác chạy lại, chêm vào: "Bộ đồ màu đen nào, lúc mới đầu cũng hơi thôi ra như vậy, không thể tránh được... Nhất là những bộ đồ giá đó. Tại nước nhuộm như vậy".

    Tôi giận sôi lên, ông Wooton nói, người bán hàng thứ nhất có ý cho tôi dối tra, người thứ nhì muốn chê tôi đã mua đồ xấu, rẻ tiền. Tôi nổi điên, muốn liệng bộ đồ vào đầu họ thì thình lình, người chủ gian hàng tới. Người này thật thạo nghễ, làm cho một khách hàng đương thịnh nộ hóa ra hài lòng.

    Ông ta làm ra sao?

    Trước hết: ông ra nghe câu chuyện của tôi từ đầu chí cuối, không nói nửa lời.

    Sau khi tôi ngừng nói, hai người bán hàng kia trình bày lý lẽ của họ ra thì ông bênh tôi mà bẻ lý lẽ của họ. Không những ông công nhận rằng quả thật áo ngoài đã thôi va làm đan cổ áo sơ mi tôi mà ông còn nhắc lại rằng bất kỳ món nào bán ở tiệm đó, cũng phải làm cho khách hàng về nhà hoàn toàn vừa ý.

    Sau hết: ông nhận rằng không biết tại sao nó lại thôi ra như vậy, và ông thẳng thắn nói với tôi: "Xin ông cho biết chúng tôi phải làm sao, và chúng tôi sẽ tuân lệnh ông".


    Năm phút trước, chắc là tôi đã la lên: "Ông giữ lấy bộ đồ quý hóa đó của ông". Nhưng bây giờ tôi trả lời: Tôi chỉ muốn lại hỏi ý ông thôi, tôi muốn biết sau này nó còn thôi nữa không và làm sao cho nó khỏi thôi.

    Ông ta khuyên tôi mang về bận thử một tuần nữa. Nếu lúc đó không vừa lòng thì sẽ mang lại đổi. Và ông ta lấy làm ân hận vì sự đó lắm.

    Tôi trở về, tươi tỉnh. Một tuần sau, áo đó quả nhiên hết thôi. Và từ đó tôi hoàn toàn tín nhiệm cửa hàng đó".

    Người đó được làm chủ gian hàng, có chi lạ? Hai người bán hàng kia sẽ làm phụ suốt đời... Có lẽ còn nên đổi họ xuống gói hay khuân đồ nữa là khác, để họ hết tiếp xúc với khách hàng.

    Nhiều khi muốn cho một người mắc bệnh càu nhàu kinh niên nguôi cơn giận chỉ cần có một kiên tâm hiểu họ, chịu làm thinh nghe họ, để họ mặc tình phùng mang, trợn mắt như con rắn hổ, phun ra ngoài cái nọc độc nó làm cho họ đương nghẹt thở.

    Vài năm trước, công ty điện thoại Nữu Ước gặp một thân chủ gắt gỏng, khó tính, trần gian có một. Y làm đủ tình, đủ tội, dọa đập máy điện thoại, không chịu trả tiền y thiếu, cho rằng công ty tính lộn, kêu nài trên mặt báo năm bảy phen, đầu đơn kiện ở tòa và tại ủy ban các công sở. Sau cùng muốn cho yên chuyện, công ty phái một sứ giả khôn lanh nhất lại thăm con "ác là" đó. Sứ giả bình tĩnh nghe ông tướng quạu đó, để mặc ông tuôn những lời cay đắng ra cho hả lòng, và chỉ gật đầu tán thành và "mô phật".

    Nghe ông ta tuôn ra trong ba giờ đồng hồ rồi về. Lần sau trở lại nghe ông ta tiếp tục cuộc diễn thuyết dông tố của ông. Bốn phen như vậy. Lần thứ tư, trước khi về, nhà sứ giả đã nghiễm nhiên thành một danh dự hội viên trong "Hội bảo trợ những người dùng điện thoại", mà ông đó mới sáng lập. Hội đó, cho mãi tới bây giờ cũng vẫn vỏn vẹn có hai người đó làm hội viên thôi.

    Nhà sứ giả chỉ việc chú ý nghe và kết quả là ông tướng quạu đó thành ra thuần hậu, chịu trả hết số tiền đã thiếu công ty và chịu rút đơn không kiện công ty Nữa. Thật chưa từng thấy ông ta dễ dãi với ông công ty bao giờ.

    Tại sao vậy? Là vì ông kêu nài, phản kháng để tỏ cái quan trọng của ông ra, khi người thay mặt cho công ty chịu nhận thấy sự quan trọng đó, thì những nổi bất bình tưởng tưởng của ông tan như mây khói hết.

    Nhiều năm trước, một khách hàng giận dữ bước vào văn phòng ông F. J. Detmer, nhà sáng tạo xưởng dệt Detmer lớn nhất thế giới.

    Người đó rõ ràng thiếu của xí nghiệp Detmer mười lăm Mỹ Kim, viết thư đòi nhiều lần mà không chịu trả, hôm đó đi xe lửa từ nhà lại hãng, nói không những không trả số tiền mà từ rày không thèm mua hàng ở hãng nữa.

    Ông Detmer sẵn sàng kiên tâm nghe, khi người đó đã trút hết cơn lôi đình, bình tĩnh lại rồi, cơ hội thuận tiện, ông Detmer mới ôn tồn nói: "Tôi cám ơn ông đã lại tận đây để cho tôi hay những điều đó. Như vậy ông đã giúp tôi một việc lớn lắm; vì nếu phòng kế toán của chúng tôi đã làm cho ông bất bình thì chắc có nhiều khách hàng dễ dãi cũng bất bình nữa. Và điều đó chúng tôi tất nhiên là muốn tránh. Xin ông tin tôi, ông nóng lòng lại phân trần với tôi một, thì tôi nóng muốn biết những nổi bất bình của ông tới hai kia".

    Ông ta chắc là tuyệt nhiên không ngờ tôi trả lời như vậy, ông Detmer kể lại. Tôi tưởng ông ta hơi cụt hứng vì ông ta từ xa lại cốt ý là để "xài" tôi cho hả... Thế mà đáng lẽ gây với ông ấy, tôi lại cám ơn ông! Tôi hứa với ông xóa nó đi, vì "một người ngăn nắp như ông, tính toán mỗi một cuốn sổ tất là ít lẫn lộn hơn các viên kết toán của tôi phải tính toán sổ của cả ngàn khách hàng.

    Tôi lại thêm rằng, tôi hiểu lòng ông ấy lắm và ở địa vị ông ta, có lẽ cũng hành động như ông. Rồi tôi lại giới thiệu với ông ấy vài Nhà bán len khác vì ông ấy không muốn mua giúp tôi nữa.

    Hồi trước, mỗi lần ông ấy ra tỉnh, tôi thường mời ông dùng bữa trưa với tôi. Lần này tôi cũng mời ông, ông ta bất đắc dĩ nhận lời... Nhưng tới chiều, khi cùng với tôi trở lại phòng giấy của tôi, ông đặt mua cho tôi một số hàng lớn nhất từ trước tới giờ. Ông về nhà Bình tĩnh hơn và muốn tỏ ra công bằng với chúng tôi, cũng như chúng tôi đã công bằng với ông, ông lục giấy tờ của ông ra, kiếm thấy toa hàng đã thất lạc và gởi trả chúng tôi mười lăm Mỹ Kim với vài lời xin lỗi.

    "Sau này, khi con trai ông ta sanh, ông lấy tên Detmer của tôi đặt tên đệm cho con ông và ông còn là bạn thân và khách hàng của chúng tôi cho tới khi ông từ trần hai năm sau".

    Đã lâu rồi, một cậu bé Hòa Lan tới di trú nước Mỹ. Cha mẹ cậu nghèo lắm. Tan giờ học, cậu phải kiếm tiền bằng cách lau cửa kính một tiệm bánh mì và lượm những cục than vụng mà các xe chở than để rớt trên đường. Tên cậu là Edward Bok. Suốt thiếu thời, cậu đi học cả thảy có sáu năm. Vậy mà sau trở thành một trong những nhà xuất bản tạp chí lớn nhất ở châu Mỹ. Chuyện đời cậu dài lắm. Nhưng sở dĩ có kết quả đó là vì cậu thi hành đúng các quy tắc dạy trong chương này.

    Cậu thôi học từ hồi mười ba tuổi, phải làm bồi cho một công ty nọ. Nhưng vẫn quyết chí học, học một mình. Cậu nhịn ăn bữa trưa và để dành tiền đi xe điện cho tới khi mua được một cuốn tự điển tả công nghiệp các danh nhân nước Mỹ. Và cậu nảy ra một ý rất mới. Sau khi đọc tiểu sử các danh nhân hiện đại, cậu viết thư cho nhiều vị yêu cầu họ cho biết thêm Những chi tiết thuộc hồi thơ ấu mà tự điển không ghi chép. Vì cậu tỏ ra "biết nghe" cho nên được các danh nhân đó kể chuyện mình cho cậu. Hồi đại tướng J.A.Garfield ứng cử tổng thống, cậu viết thư hỏi có phải hồi thiếu thời đại tướng đã làm nghề kéo ghe trên kinh để độ nhật không? Và Garfield trả lời cậu... Cậu lại viết thư hỏi đại tướng Grant xin cho biết những chi tiết trong một trận mà đại tướng cầm quân. Grant vẽ cho cậu một bản đồ rồi mời cậu lúc đó mới mười bốn tuổi rưỡi lại nhà dùng bữa và nói chuyện.

    Nhờ khéo kích thích những người đó, tả lại những thành công của ho, một vấn đề mà bất cứ danh nhân hay thường nhân ai cũng ưa nói tới mà không chán, cho nên cậu bé xuất thân hèn hạ đó không bao lâu được giao thiệp với một số danh nhân nước Mỹ và được nhiều vị tiếp đãi như khách quý. Sự giao thiệp đó nung đúc cho cậu một đức tính quý báu, một hoài bão và một hy vọng cao xa, xoay chuyển hẳn cả cuộc đời cậu. Và tôi nhắc lại, được vậy chỉ nhờ cậu thi hành đúng những quy tắc mà chúng ta nêu ra đây.

    Isaac Marcosson, nhà quán quân về môn phỏng vấn các danh nhân, nói rằng phần đông phỏng vấn viên không thành công chỉ vì quá chăm chú nghe những câu vấn thành ra không chú ý nghe những câu đáp... Nhiều danh nhân nói với Marcosson rằng họ ưa gặp một người biết nghe hơn là một người biết nói chuyện. Tai hại thay! Khả năng biết nghe đó hình như lại là khả năng hiếm thấy nhất.

    Không phải chỉ các danh nhân mới thích được người ta nghe mình nói đâu, về phương diện đó, thường nhân cũng như họ. Một văn sĩ đã nói: "Nhiều người mời bác sĩ tới chỉ để kể lể tâm sự thôi".

    Trong những ngày đen tối nhất của cuộc Nam Bắc chiến tranh, Lincoln viết thư mời một ông bạn cũ ở xứ Illinois tới Washington để bàn về vài vấn đề. Ông bạn tới Bạch Ốc và Lincoln nói với ông trong mấy tiếng đồng hồ về tờ bố cáo ông tính công bố để thủ tiêu chế độ nô lệ. Lincoln ôn lại tất cả những lý lẻ bênh vực đạo luật đó và những lý lẻ chống đạo luật đó, ông đọc lại hết cả những bức thư và bài Báo nói về vấn đề đó, trong đó có nhiều bài thống trách ông sao chưa phế trừ chế độ nô lệ, lại có nhiều bài khác chỉ trích ông vì ông Muốn hủy bỏ chế độ đó.

    Sau khi diễn thuyết một hồi lâu. Lincoln bắt tay ôn bạn già, chúc ông ta bình an và mời ông ta trở về Illinois, chẳng hỏi ý kiến ông ta một chút chi Hết. Lincoln đã nói để trút những nổi suy nghĩ nó đè nặng trong lòng ông, như vậy để cho óc ông được sáng suốt. Ông bạn già kể lại: "Khi ông Lincoln nói xong rồi, ông ấy bình tĩnh hơn".

    Lincoln không cần một người khuyên bảo, ông chỉ muốn có một bạn thân nghe ông nói và hiểu ông để ông trút tâm sự của ông thôi. Hết thảy chúng ta chẳng như vậy ư? Và ông khách hàng bực tức, người làm công bất bình, ông bạn mất lòng... đều cần kiếm người để than thở.

    Nếu các bạn muốn người ta trốn bạn, chế giễu lén bạn hay khinh ghét Bạn thì bạn làm như vậy: Đừng bao giờ nghe người khác nói hết, bạn Cứ nói hoài về bạn thôi. Trong khi người khác nói, bạn nẩy ra một ý gì chăng, thì đừng đợi người ta nói hết câu. Đợi mà làm gì? Câu chuyện người ta kể đâu có thú vị hay ho bằng câu chuyện bạn sắp kể ra? Tại sao mất thì giờ nghe chuyện con cà con kê đó? Mạnh bạo đi, cắt ngang câu người ta nói đi.

    Bạn có quen ai hành động như vậy không? Riêng tôi, tôi đã thấy... Thực tai hại. Chịu không nổi họ! Họ đầy tự phụ, say mê về cái quan trọng của họ! Nực cười nhất là một số trong những kẻ đó lại được mọi người coi là giới thượng lưu! Kẻ nào chỉ nói về mình thì chỉ nghĩ tới mình thôi. Và kẻ chỉ nghĩ tới mình thôi, nhất định là một kẻ thiếu giáo dục. Ông Nicholas Murray Putler, hiệu trưởng trường đại học Columbia nói như vầy: "Dù kẻ đó học hành tới bực nào nữa thì cũng vẫn là thiếu giáo dục".

    Vậy nếu bạn muốn người ta coi là nói chuyện có duyên thì bạn phải biết cách nghe. Nên nghe lời khuyên tài tình này của một người đàn bà: "Muốn được người chú ý tới, trước hết phải biết chú ý tới người". Bạn nên đặt những câu vấn mà ai cũng say mê đáp: tức như những câu hỏi về đời tư hay đời công của họ, những thành công của họ.

    Nên nhớ rằng người nói chuyện với ta quan tâm tới những thị dục, những vấn đề của họ trăm phần thì chỉ quan tâm đến ta, đến nỗi thắc mắc của ta một phần thôi. Bệnh nhức răng dày vò người đó hơn là cảnh đói kém làm chết cả triệu dân Trung Quốc. Một cái nhọt tại cổ người đó làm cho người đó lo lắng hơn bốn chục nạn động đất ở châu Phi. Lần sau, có nói chuyện với ai, xin bạn nhớ tới điều đó.

    Vậy muốn cho người mến, bạn theo quy tắc thứ tư sau này:

    Biết chăm chú nghe và khuyến khích người khác nói tới họ.
  9. Offline

    LucifeR New Member

    Số bài viết:
    815
    Đã được thích:
    87
    Phần Chín


    Làm Sao Gây Được Thiện Cảm

    Những ai đã gặp tổng thống Théodore Roosevelt đều ngạc nhiên về sự biết nhiều, hiểu rộng của ông. Bất kỳ một người chăn bò hay kỵ binh, một nhà chính trị, hay một nhà ngoại giao lại thăm. Ông đều biết cách hỏi chuyện người đó. Bí quyết của ông ư? Giản dị lắm. Khi Roosevelt phải tiếp một người khách, thì cả buổi tối hôm trước ông nghiên cứu vấn đề mà ông biết khách ưa nói tới hơn hết.

    Cũng như hết thảy những người dẫn đạo quần chúng, ông biết rằng cách thần diệu nhất để chiếm lòng người là bàn tới vấn đề mà người đó thường ấp ủ trong lòng.

    Một thiên tài, William Lyon Phelps, trước làm giáo sư văn chương ở đại học đường Yale, đã hiểu chân lý đó từ hồi còn nhỏ. Trong một bài luận về "nhân tánh" ông kể:

    Hồi tám tuổi, tôi về nghỉ hè ở nhà cô tôi. Một buổi tối, một ông khách lại chơi. Sau khi chào hỏi cô tôi, ông hết sức chú ý tới tôi. Hồi đó tôi mê chơi tàu lắm và ông nói về tàu một cách làm cho tôi thích đặt biệt. Khi ông về rồi, tôi nhiệt liệt khen ông. Đáng phục là dường nào! Ông ấy yêu tàu làm sao? Và biết rõ nó lắm? Nhưng cô tôi bảo ông ấy làm luật sư ở Nữu Ước và chẳng bao giờ để ý tới tàu hết. Tôi la lên: "Thế thì tại sao ông chỉ nói tới tàu cho cháu nghe?" .

    Cô tôi trả lời: "Tại ông là người có giáo dục, ông thấy cháu mê về tàu thì ông nói về tàu. Ông rán sức gây thiện cảm với cháu".

    Và William Lyon Phelps nói thêm: "Không bao giờ tôi quên lời nhận xét đó của cô tôi".

    Hiện tôi còn giữ một bức thư của ông Edward L. Chalif, một người hoạt động nhiều cho các hội hướng đạo.

    Ông viết: Một hôm hay tin có một đoàn hướng đạo sắp qua châu Âu họp đại hội các hướng đạo sinh toàn cầu, tôi muốn cho một hướng đạo sinh của tôi dự cuộc đó. Tôi bèn lại thăm ông hội trưởng một xí nghiệp vào hàng lớn nhất ở Mỹ xin ông cấp cho tôi phí tổn du lịch.

    Trước khi tới thăm ông, tôi tình cờ hay rằng ông mới ký một tấm chi phiếu một triệu Mỹ kim, rồi sau khi hủy bỏ đi, vì không cần xài tới, ông đem đóng khung lại, giữ làm kỷ niệm một vật hiếm có. Gặp mặt ông, tôi liền xin ông cho coi vật quý đó. Một chi phiếu một triệu Mỹ kim! Tôi nói với ông rằng tôi chưa từng biết người nào ký một chi phiếu khổng lồ như vậy và tôi muốn kể lại cho các hướng đạo sinh của tôi rằng chính mắt tôi đã thấy một chi phiếu một triệu đồng! Ông vui vẻ đưa tôi coi. Tôi ngắm nghía, tán thưởng và xin ông kể cho nghe vì những đại sự gì mà ông đã phát nó ra.

    Các bạn nhận thấy rằng ông Chalif khi bắt đầu câu chuyện không hề nói tới hướng đạo sinh, tới cuộc du lịch hoặc tới mục đích của ông. Ông chỉ nói tới vấn đề mà ông kia ưa nhất. Và sự khéo léo của ông được thưởng như sau này:

    Một lúc sau, ông hội trưởng hỏi tôi: "À! Ông lại thăm tôi có chuyện chi?" . Tôi bày tỏ lời tôi yêu cầu. Và ngạc nhiên làm sao, ông ưng liền, lại còn cho tôi nhiều hơn số tôi muốn nữa. Tôi chỉ xin phí tổn cho một hướng đạo sinh, mà ông chịu phí tổn cho tới năm người và cả cho tôi nữa, ông lại còn cho tôi một tờ tín dụng để tới châu Âu lãnh một ngàn Mỹ kim. Ông lại khuyên tôi nên ở châu Âu 7 tuần lễ. Ông còn đưa cho nhiều bức thư giới thiệu tôi với các nhà đại lý của ông. Khi chúng tôi tới Paris, lúc ấy ông có mặt tại đó, ông tiếp đón chúng tôi và tự lái xe đưa chúng tôi đi coi châu thành nữa.

    Từ hồi đó, ông đã kiếm việc cho nhiều hướng đạo sinh của chúng tôi mà cha mẹ nghèo. Và cho tới nay, ông vẫn còn sốt sắng giúp đỡ đoàn của chúng tôi.

    Tôi biết chắc rằng nếu trước kia tôi không kiếm được sở thích của ông và làm cho ông vui lòng ngay từ lúc đầu, thì ông không cho tôi được một phần mười những cái ông đã cho tôi".

    Phương pháp đó có nên thi hành trong sự giao thiệp về thương mại không? Thì đây, ta hãy xét trường hợp của ông Henry G. Duvernoy, một trong những nhà làm bánh mì lớn nhất ở Nữu Ước.

    Đã 4 năm rồi, ông ta kiếm cách bán bánh cho một khách sạn nọ ở Nữu Ước. Mỗi tuần lại thăm ông chủ khách sạn một lần, mỗi khi ông này dự cuộc công ích nào thì ông Duvernoy cũng có mặt tại đó, tới đỗi ông còn mướn phòng ở ngay trong khách sạn đó để "thuyết" ông kia. Công dã tràng.

    Sau khi theo học lớp giảng của chúng tôi, ông Duvernoy thay đổi chiến lược. Ông kiếm cách dò biết thị hiếu ông giám đốc khách sạn.

    Tôi hay rằng, lời ông Duvernoy nói, ông ấy nhờ hăng hái hoạt động cho một Liên đoàn các chủ nhân khách sạn mà mục đích là phô trương "sự tiếp đãi niềm nở của châu Mỹ", nên được làm hội trưởng hội đó. Liên đoàn đó sau được các chủ nhân khách sạn vạn quốc gia nhập và trở nên một hội quốc tế mà chính ông được làm hội trưởng. hội nghị của những hội đó họp ở đâu thì dầu phải lội suối trèo đèo, vượt đại dương, qua sa mạc, ông cũng tới dự.

    Cho nên lần sau gặp ông, tôi nói ngay tới liên đoàn của ông.

    Và, các bạn ơi! Nồng nàn làm sao! Ông hùng hồn diễn thuyết trong nửa giờ đồng hồ về tổ chức đó. Và tôi thấy rõ ràng những hội đó là cái "nghiện" của ông, là lẽ sống của đời ông. Trước khi từ giã ông, thì ông đã bán cho tôi một tấm thẻ hội viên.

    Tôi không hề nói tới bánh của tôi. Nhưng vài hôm sau, người quản lý khách sạn kêu điện thoại bảo tôi mang mẫu bánh lại để tính giá cả.

    Người đó bảo tôi: "Không biết ông đã làm gì mà chủ tôi thích ông tới nỗi ngồi đâu cũng chỉ nói tới ông thôi".

    Các bạn thử tưởng tượng: theo đuổi ông ấy bốn năm trời mà chẳng kết quả chi hết. Nếu tôi không biết cách kiếm những thị hiếu và những cái ông ấy mê nhất thì bây giờ chắc vẫn còn phải năn nỉ ông ấy mua giúp cho nữa.

    Vậy muốn gây thiện cảm với ai, xin bạn:

    ... Nói với người ấy về cái sở thích, hoài bão của họ.

    Đó là quy tắc thứ năm.
  10. Offline

    LeDuy Đầu lạnh - Tim nóng

    Số bài viết:
    4.443
    Đã được thích:
    7.298
    Trả lời: Đắc Nhân Tâm (Nguyễn Hiến Lê dịch)

    Cái này còn nữa không em? Anh có bản audio "Đắc Nhân Tâm" nè, file MP3 để nghe trên điện thoại hoặc máy tính...
    Anh cũng chưa nghe hết nữa. Để anh up lên diễn đàn cho mọi người download về nghe.
  11. Offline

    Gacon001 Nối vòng tay lớn

    Số bài viết:
    1.523
    Đã được thích:
    4.667
    Trả lời: Đắc Nhân Tâm (Nguyễn Hiến Lê dịch)

    Đọc hơi dài 1 chút nhưng cũng ngộ ra được rất nhiều điều hay, thank em
  12. Offline

    Vididong Active Member

    Số bài viết:
    61
    Đã được thích:
    5
    Trả lời: Đắc Nhân Tâm (Nguyễn Hiến Lê dịch)

    tưởng bảo down về nghe mà???
  13. Offline

    Viethfan Active Member

    Số bài viết:
    579
    Đã được thích:
    67
    Trả lời: Đắc Nhân Tâm (Nguyễn Hiến Lê dịch)

    Caj nay xua lam ruj !
  14. Offline

    sieuthiiphonevn Member

    Số bài viết:
    12
    Đã được thích:
    1
  15. Offline

    PhamHoangbtvn New Member

    Số bài viết:
    2
    Đã được thích:
    0
    Chúc bạn một ngày nhiều may mắn <3
  16. Offline

    letu_12 Active Member

    Số bài viết:
    121
    Đã được thích:
    32
    hay quá, tìm link down về ngâm dần vậy
  17. Offline

    nutrivita106 New Member

    Số bài viết:
    10
    Đã được thích:
    0
    Sách này rất hay, mới đọc qua đoạn đầu nhưng thấm lòng người, cố gắng đọc hiệu để cuộc sống tốt hơn
  18. Offline

    Nhokkbg New Member

    Số bài viết:
    5
    Đã được thích:
    0
    sách này thấy mọi người cũng nói nhiều hôm nay mình ngồi mình đọc cũng rất bổ ích và ý nghĩa cho cuộc sống

Chia sẻ trang này